Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày 24-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Quang Hải

Thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hồ Hoàng Diệu
  2. Ông Trần Vinh Quang
  3. Bà Dương Hiền Trúc Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Chúc, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Xuân Lan, ông La Quốc Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Chánh H, sinh ngày 07 tháng 10 năm 1965, tại Cần Thơ; nơi cư trú: số E B, khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: xe ôm; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ân H1 (chết) và bà Bùi Thị Đ, sinh năm 1940; có vợ: Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1969 và 02 người con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: chưa.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/11/2024 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đặng Trọng T1, Văn phòng L, Đoàn luật sư thành phố C (có mặt)

Địa chỉ: số C, khu V, đường L, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.

- Người bị hại: Võ Văn T2 (chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Võ Thị Thanh D, sinh năm 2001. (có mặt) Địa chỉ: 1 đường T, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Tẩn Thị Y, Văn phòng L1, Đoàn luật sư thành phố C.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Quốc T3, sinh năm 1996 (có mặt). Địa chỉ: số E B, khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.

- Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 2002 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Số I khu V, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ

  3. Ông Trần Thanh N, sinh năm 1985 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Số B, tổ A, khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ

  5. Ông Dư Thanh H2, sinh năm 1969 (vắng mặt)
  6. Địa chỉ: P, T, đường N, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Chánh H và bị hại Võ Văn T2 đều làm nghề chạy xe moto chở khách ở khu vực Cảng H thuộc phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Từ năm 2019 có xảy ra mâu thuẫn với nhau do giành khách.

Vào khoảng 17 giờ 15, ngày 01 tháng 11 năm 2024, trên đường chạy về nhà, H thấy T2 đứng mua đồ trong tiệm tạp hóa trên đường N, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ nên H dừng xe lại nói “mày chạy xe gì mà tới đâu cũng gặp mày”, T2 dùng lời lẽ chửi lại rồi bỏ đi. Do tức giận bị T2 chửi nên H chạy xe tìm T2 để giải quyết mâu thuẫn thì phát hiện T2 đang ngồi uống nước trước quán N1 tại địa chỉ số D L, khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. T2 thấy H chạy xe đến thì đi ra và nói “tao nè, tìm cái gì”. Sau đó hai bên tiếp tục cự cải, H đến baga trước xe của H cầm lấy sợi dây xích (có gắn ổ khóa ở một đầu) giơ lên. T2 thấy vậy liền chạy vào trong quán nước lấy 01 cái ghế xếp nhựa màu xanh (khung ghế bằng kim loại) chạy ra đánh nhau với H. Lúc này H cầm sợi dây xích bằng tay trái đập mạnh vào người T2 nhưng không trúng, T2 cầm ghế bằng hai tay nhào ra đánh trúng người H. Thấy vậy, H tiếp tục lấy một cây kéo trên baga xe cầm bên tay phải, cầm sợi dây xích bên tay trái rượt đánh ông T2. T2 lùi vào trong quán nước và bị rơi cái ghế đang cầm trên tay xuống nền gạch. H dùng dây xích đánh vào người T2 nhưng không trúng và làm rơi sợi dây xích. Hai bên vật lộn ngã xuống nền gạch, thời điểm ngã xuống, H ở phía trên còn T2 nằm phía dưới. Lúc này tay phải H cầm cây kéo lưỡi hướng xuống đất, giơ lên cao, đâm mạnh từ trên xuống dưới 01 nhát, trúng vào vùng thái dương bên phải của T2. T2 tiếp tục vật H lăn qua bên trái rồi ngồi đè trên người H, khống chế tay cầm kéo của H và dùng tay đấm liên tục vào mặt H 05-07 cái. Lúc này, người dân gần đó đến can ngăn. T2 được

người nhà đưa đến Bệnh viện Đa khoa Trung ương thành phố C cấp cứu, điều trị đến 07 giờ 30 phút ngày 02/11/2024 thì Võ Văn T2 tử vong. Đối với Trần Chánh H sau khi gây án bị Công an phường B, quận B, thành phố Cần Thơ lập biên bản bắt giữ.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 cái ghế nhựa màu xanh có khung bằng kim loại;
  • - 01 cây kéo bằng kim loại có mũi nhọn kích thước (23x11)cm, quai kéo bằng kim loại, bên ngoài bọc ống nhựa màu đen kích thước (10,5x11)cm
  • - 01 đoạn dây xích bằng kim loại có gắn ổ khóa bằng kim loại màu đen dài khoảng 70cm;
  • - 01 áo sơ mi ngắn tay, màu trắng, chấm đen, bên trong cổ áo có dòng chữ VERSACET & TDOLM; quần dài bằng vải màu xám;
  • - 01 áo sơ mi ngắn tay màu xanh nhạt;
  • - 01 quần Jean màu xám nhạt có dính dịch màu đỏ;
  • - 01 xe mô tô hiệu wave RSX, biển số 65D1-480.08
  • - 01 xe mô tô hiệu Taurus biển số 65T1-5634.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 38/KLGĐTT-TTPYCT ngày 22/11/2024 của Trung tâm pháp y thành phố C đối với Võ Văn T2 kết luận:

  • - Nguyên nhân tử vong của Võ Văn T2: chấn thương kèm theo vết thương sọ não nặng.
  • - Vết đứt da sâu vào tổ chức dưới da hình bầu dục ở vùng thái dương phải phù hợp với cơ chế do vật nhọn gây nên.
  • - Cơ chế hình thành vết thương: Vết đứt da sâu vào tổ chức dưới da hình bầu dục ở vùng thái dương phải có chiều hướng từ trên xuống, từ phải sang trái.

Tại bản kết luận giám định số 36/KLGĐ-KTHS-SV ngày 29/11/2024 của Phòng K Công an thành phố C kết luận:

  • - Máu của Võ Văn T2 thuộc nhóm máu O
  • - Máu của Trần Chánh H thuộc nhóm máu B
  • - Vết nghi máu trên quần áo Võ Văn T2 và Trần Chánh H và máu thu tại hiện trường vị trí số 4 đều là máu người, thuộc nhóm máu O, trùng với nhóm máu của Võ Văn T2.
  • - Trên cây kéo có máu người, lượng vết ít, không đủ để xác định nhóm máu.

Về trách nhiệm dân sự: đại diện gia đình bị hại yêu cầu Trần Chánh H bồi thường tổng số tiền 275.039.000 đồng gồm các khoản: chi phí mai táng, tiền viện phí; tiền bồi thường về tổn thất tinh thần, chi phí mất thu nhập. Trần Chánh H thống nhất số tiền bồi thường và đến nay gia đình bị cáo đã khắc phục được số tiền 40.739.000 đồng

Tại cáo trạng số 05/CT-VKS-P2 ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Trần Chánh H về tội giết người theo điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS.

Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố về tội danh và điều khoản áp dụng đối với bị cáo. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên đề nghị tuyên bố: bị cáo Trần Chánh H phạm tội “Giết người”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Chánh H mức án từ 17 đến 18 năm tù.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị tiêu hủy: 01 (một) cái ghế nhựa màu xanh có khung bằng kim loại; 01 (một) cây kéo bằng kim loại có mũi nhọn kích thước (23x11)cm, quai kéo bằng kim loại, bên ngoài bọc ống nhựa màu đen kích thước (10,5x11)cm; 01(một) đoạn dây xích bằng kim loại có gắn ổ khóa bằng kim loại màu đen dài khoảng 70cm; 01 (một) áo sơ mi ngắn tay, màu trắng, chấm đen, bên trong cổ áo có dòng chữ VERSACET&TDOLM; quần dài bằng vải màu xám; 01 (một) áo sơmi ngắn tay màu xanh nhạt (có dính dịch màu đỏ nghi là máu); 01 (một) quần Jean màu xám nhạt có dính dịch màu đỏ do không còn giá trị sử dụng được.

Đề nghị trả lại xe mô tô hiệu wave RSX, biển số 65D1 – 480.08 chủ sở hữu xe là ông Trần Quốc T3, xe trên T3 đưa cho bị can dùng để chạy xe khách hàng ngày.

Về trách nhiệm dân sự: áp dụng theo Điều 591 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo bồi thường tiền mai táng phí 40.000.000 đồng; tiền viện phí 4.289.000 đồng; tiền mất thu nhập 03 ngày của bà Võ Thị Thanh D và tiền tổn thất tin thần số tiền 230.000.000 đồng, tổng số tiền 275.039.000 đồng. Gia đình bị cáo đã bồi thường số tiền 40.739.000 đồng. Bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền 234.000.000 đồng cho gia đình nạn nhân.

Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng Điều 135 và Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án.

- Người bào chữa cho bị cáo trình bày: tại phiên tòa bị cáo Trần Chánh H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có thời gian chuộc lại lỗi lầm. Về trách nhiệm dân sự: bị cáo và gia đình bị cáo thống nhất số tiền bồi thường cho gia đình bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại có ý kiến: Yêu cầu bị cáo và gia đình bị cáo bồi thường tổng số tiền là 275.039.000 đồng.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày: Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhưng bị cáo đã có hành vi côn đồ và đã tước đi sinh mạng của bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết tăng nặng đối với bị cáo. Về số tiền bồi thường thiệt hại mà gia đình bị cáo đã bồi thường là thấp hơn so với

yêu cầu, chỉ khắc phục được một phần nhỏ nên đề nghị không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo. Đề nghị tăng mức án cho bị cáo là 20 năm tù.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Thống nhất với yêu cầu của gia đình bị hại, đồng ý bồi thường số tiền còn lại là 234.300.000 đồng.

Phát biểu lời nói sau cùng: bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thể hiện sự ăn năn hối hận về hành vi đã thực hiện, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định:

Khoảng 17 giờ 15 phút, ngày 01/11/2024, bị cáo Trần Chánh H trên đường chạy về nhà thì gặp Võ Văn T2, H dừng xe lại nói “mày chạy xe gì mà tới đâu cũng gặp mày”, T2 chửi lại H rồi bỏ đi. Vì bực tức việc T2 chửi nên H chạy xe tìm T2 để giải quyết mâu thuẫn. Khi gặp T2 đang uống nước trước quán N1 tại địa chỉ số D L, khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ, hai bên xảy ra xô xát, vật lộn ngã xuống nền gạch. Lúc này, H ngồi đè trên người T2 cầm cây kéo đâm mạnh từ trên xuống dưới 01 nhát, trúng vào vùng thái dương bên phải của T2 dẫn đến chấn thương sọ não nặng và T2 đã tử vong ngày 02/12/2024.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 45/KLGĐTT-PC09 ngày 25/4/2024 của Phòng K, Công an thành phố C kết luận: nguyên nhân tử vong của Võ Văn T2 do chấn thương kèm vết thương sọ não nặng, vết thương do vật nhọn có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái gây nên.

Theo bản kết luận giám định tử thi trên và đối chiếu với hành vi của bị cáo, xét thấy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” với tình tiết định khung theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản đã viện dẫn là có căn cứ.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án:

[3.1] Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ từ lời nói mà bị cáo đã dùng hung khí là cây kéo và sợi dây xích để tìm bị hại đánh nhau. Trong lúc xô xát, bị cáo dùng cây kéo sắc nhọn đâm mạnh từ trên xuống dưới vào vùng thái dương bên phải của bị hại dẫn đến bị hại tử vong. Bị cáo nhận thức được hành vi này có khả năng tước đoạt mạng sống của bị hại nhưng vẫn bỏ mặc hậu quả xảy ra để thực hiện hành vi với lỗi cố ý, hậu quả xảy ra làm bị hại tử vong. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính côn đồ, xem thường tính mạng của người khác, xem thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây bức xúc, dư luận xấu trong xã hội, Vì vậy, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo biết sống đặt mình vào khuôn khổ của pháp luật; đồng thời đảm bảo tác dụng trừng trị, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3.2] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình tố tụng, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình tích cực bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở đánh giá toàn diện về nguyên nhân, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một hình phạt tương xứng và cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời hạn nhất định để bị cáo ăn năn, hối lỗi đối với hành vi phạm tội của mình, đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, học tập, tu dưỡng để trở thành người có ích cho xã hội sau này.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa đại diện gia đình bị hại yêu cầu bồi thường số tiền 275.039.000 đồng (gồm viện phí 4.289.000 đồng, tiền mai táng phí: 40.000.000 đồng, tổn thất tinh thần: 230.000.000 đồng, chi phí mất thu nhập 03 ngày công của bà D là 750.000 đồng). Tại phiên tòa, bị cáo và gia đình bị cáo đồng ý bồi thường số tiền này theo yêu cầu của gia đình bị hại. Xét thấy, thỏa thuận giữa bị cáo và phía đại diện gia đình của bị hại không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên ghi nhận. Gia đình bị cáo đã khắc phục được số tiền 40.739.000 đồng nên còn phải tiếp tục bồi thường 234.300.000 đồng.

[5] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy đối với các vật chứng là hung khí gây án, vật chứng không có giá trị hoặc không còn giá trị sử dụng.

Những vật chứng là tài sản của người khác không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo trả lại cho chủ sở hữu.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, xét thấy cần đảm bảo cho việc bồi hoàn trách nhiệm dân sự cho gia đình bị hại nên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Chánh H phạm tội “Giết người”.

Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Trần Chánh H 15 (mười lăm) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/11/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật Dân sự.

Ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp người bị hại về việc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 275.039.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường 40.739.000 đồng nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 234.300.000 đồng cho gia đình bị hại.

Kể từ khi đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo chậm trả số tiền trên thì bị cáo còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47,48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 cái ghế nhựa màu xanh có khung bằng kim loại;
  • + 01 cây kéo bằng kim loại có mũi nhọn kích thước (23x11)cm, quai kéo bằng kim loại, bên ngoài bọc ống nhựa màu đen kích thước (10,5x11)cm
  • + 01 đoạn dây xích bằng kim loại có gắn ổ khóa bằng kim loại màu đen dài khoảng 70cm;
  • + 01 áo sơ mi ngắn tay, màu trắng, chấm đen, bên trong cổ áo có dòng chữ VERSACET & TDOLM; quần dài bằng vải màu xám;
  • + 01 áo sơ mi ngắn tay màu xanh nhạt;
  • + 01 quần Jean màu xám nhạt;

- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Quốc T3: 01 xe mô tô hiệu wave RSX, biển số 65D1-480.08.

- Ghi nhận cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu: 01 xe mô tô hiệu wave RSX, biển số 65D1-480.08 (theo quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 1434/QĐ-VPCQCSĐT ngày 11/12/2024).

(theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/02/2025).

4. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 12, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo, đại diện gia đình người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại TP.HCM;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - CQCSĐT TP. Cần Thơ;
  • - Trại tạm giam CATP. Cần Thơ;
  • - Cục THADS TP. Cần Thơ;
  • - Sở Tư pháp TP.Cần Thơ;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Quang Hải

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Hoàng Diệu – Trần Vinh Quang

Thái Quang Hải

Dương Hiền Trúc Lan – Lê Thị Minh Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự - giết người

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Trần Chánh Hưng phạm tội giết người. Bị xử phạt 15 năm tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger