Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 21-03 - 2025

V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn Văn Hải

Ông: Lương Xuân Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Lữ Thị Hải Vân - Thư ký Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Hữu Dương – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXX-ST ngày 05 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu T - Sinh năm: 1993;

Địa chỉ: TDP H, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Trần Văn Đ – sinh năm: 1987 – Luật sư Công ty L.

Địa chỉ: P tòa C, ĐN A khu đô thị N, huyện H, TP ..

- Bị đơn: Anh Vũ Đình G – Sinh năm: 1995;

HKTT: TDP H, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Hiện đang chấp hành án tại: Phân trại K Trại giam T1 – Cục C- Bộ C1 đóng tại Thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Trần Thị Thu T trình bày như sau: Chị và anh Vũ Đình G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T (N là phường T, thị xã N), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 16/10/2014. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, sau một khoảng thời gian chung sống cùng nhau vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Nguyên nhân chủ yếu là do anh G ham mê cờ bạc, không tu chí làm ăn dẫn đến có rất nhiều khoản nợ nần. Do mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, hai vợ chồng không tìm gặp nhau, không quan tâm nhau nữa. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh G vi phạm pháp luật nên phải đi chấp hành án, sau khi ra trại cả hai cũng không gặp lại nhau. Sau đó, anh G tiếp tục phạm tội và hiện đang chấp hành án tại Phân trại K2 Trại giam T1. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu V Trần Đình Q – Sinh ngày: 18/11/2014. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Cháu Q có nguyện vọng được ở với mẹ.

Về tài sản và công nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:

Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T: về hôn nhân xử cho chị T được ly hôn với anh G; về con chung giao cháu Q cho chị T nuôi dưỡng; về tài sản và công nợ không yêu câu Tòa án giải quyết.

Quan điểm trình bày của anh Vũ Đình G:

Về hôn nhân: Anh và chị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2014. Nay chị T làm đơn ly hôn anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu V Trần Đình Q – Sinh ngày: 18/11/2014. Anh có nguyện vọng được nuôi cháu Q và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hiện tại anh đang chấp hành án tại Phân trại K2 Trại giam T1 nên con anh sẽ được ông nội là Vũ Đình D và bà nội là Hồ Thị H nuôi dưỡng. Vấn đề này đã được anh, cháu Q và bà nội hỏi nguyện vọng của cháu.

Về tài sản và công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa cả chị T và anh G, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên quan điểm theo nội dung bản tự khai đã nộp cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị Thu T. Về hôn nhân: Xử cho chị T được ly hôn với anh G. Về con chung: Giao cháu Q cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh G không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh G được quyền lui tới thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản; Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa không xét; Về án phí buộc chị T phải chịu án phí DSST về việc hôn nhân gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Trần Thị Thu T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Vũ Đình G là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn có HKTT trên địa bàn thị xã N nên TAND Thị xã Nghi Sơn có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cả chị T và anh G và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị T và anh G có xảy ra mâu thuẫn, xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn. Do anh G đang chấp hành án tại Trại giam T1 nên TAND Thị xã Nghi Sơn không thể tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 207 BLTTDS. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của chị T và anh G nên được HĐXX châp nhận.

[3] Về con chung: Chị T và anh G có 01 con chung cháu V Trần Đình Q – Sinh ngày: 18/11/2014. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con. Anh G có nguyện vọng đề nghị Tòa án giao con cho ông bà nội nuôi dưỡng cho đến ngày anh chấp hành án xong. Xét thấy hiện tại anh G đang chấp hành án nên không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con, chị T có nguyện vọng nuôi con hơn nữa cháu Q cũng có nguyện vọng ở cùng chi T nên HĐXX căn cứ vào điều kiện thực tế và khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình để giao con cho chị T nuôi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện anh G đang chấp hành án nên không đủ điều kiện cấp dưỡng nuôi con, chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX xét thấy đây là ý chí tự nguyện của chị T nên chấp nhận.

Về quyền đi lại thăm nom con chung: Anh G được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp anh G lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị T được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh G.

[4] Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí: Buộc chị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm

[6] Xét về quan điểm bảo vệ của người bảo vệ quyền và lợi ích cho nguyên đơn phù hợp với nhận định của HĐXX nên được HĐXX chấp nhận.

[7] Về quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Phù hợp với nhận định của HĐXX nên HĐXX chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điêu 228 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS; Căn cứ vào các Điều 51, 56, khoản 2 Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trần Thị Thu T.

  1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Thu T và anh Vũ Đình G.
  2. Về con chung: Chị T và anh G có một con chung là cháu V Trần Đình Q – Sinh ngày: 18/11/2014. Giao cháu Q cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh G không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị T. Anh G được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cấm. Trong trường hợp anh G lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị T được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh G.
  3. Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
  4. Về án phí: Buộc chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003086, ngày 07 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị T đã thi hành xong phần án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt các đương sự. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - CC.THA-DS thị xã Nghi Sơn;
  • - Nguyên đơn, bị đơn;
  • - UBND phường Trúc Lâm, TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa.
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị và anh Vũ Đình G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T (N là phường T, thị xã N), tỉnh Thanh Hóa vào ngày 16/10/2014. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, sau một khoảng thời gian chung sống cùng nhau vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Nguyên nhân chủ yếu là do anh G ham mê cờ bạc, không tu chí làm ăn dẫn đến có rất nhiều khoản nợ nần. Do mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, hai vợ chồng không tìm gặp nhau, không quan tâm nhau nữa. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh G vi phạm pháp luật nên phải đi chấp hành án, sau khi ra trại cả hai cũng không gặp lại nhau. Sau đó, anh G tiếp tục phạm tội và hiện đang chấp hành án tại Phân trại K2 Trại giam T1. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger