|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày: 21/3/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng
Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hữu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Lai
Ông Nguyễn Triệu Tỷ
Ông Trần Văn Quốc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn – Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Quang Đại - Kiểm sát viên
Trong các ngày 18 và ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2024/TLST-HS, ngày 12 tháng 12 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Thị Chúc N, sinh ngày 03/10/1983; Nơi sinh: Huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn T và bà Trần Thị Hồng Đ; Chồng: Nguyễn Minh N1; Con: Có 02 người con, người con lớn sinh năm 2003, người con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/3/2024 cho đến nay. (có mặt)
Người bào chữa: Bà Huỳnh Thị T1 - Luật sư của Văn phòng luật sư Huỳnh Ánh T2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh S; Địa chỉ văn phòng: Số G, đường N, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bị hại:
- Bà Diệp Thị Đ1, sinh năm 1954; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Lê Thị H, sinh ngày 01/01/1951; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Quách Thị K, sinh ngày 17/10/1973; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Lục Thị Y, sinh ngày 01/01/1975; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Lâm Thị Hồng S, sinh năm 1956; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Trần Thị L, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Trần Thị H1 (Bé H2), sinh ngày 24/8/1990; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Lưu Thị N3 (Tèo dán xe), sinh năm 1983; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị T4, sinh ngày 20/12/1985; Nơi cư trú: Ấp L, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Nguyễn Hồng T5, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Đinh Thị Bé S1, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Lê Thanh H3, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Mỹ H4, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Ngọc T7, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Trần Thị T8, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Phan Thị Mỹ P, sinh năm 1963; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Ánh N4, sinh năm 1961; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Tô Thị Mỹ P1, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Đặng Thị Ú, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Ấp P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Lâm Thị Kim P2 (T9), sinh năm 1982; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Lê Thị Thanh T10, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Dương Thị T11, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị H5, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Bà Tăng Thị N5 (C), sinh năm 1967; Nơi cư trú: Ấp P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Lê Thị G, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Ông Châu Kim S2, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Hứa Thị T12 (Tám T13), sinh năm 1959; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Lữ Thị T14 (Út Đ2), sinh năm 1971; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Ấp P, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Minh N1, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của người liên quan Y: Ông Lục Văn T3, sinh ngày 01/01/1980; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng - Theo Giấy ủy quyền ngày 17/3/2025; (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của người liên quan M1: Ông Nguyễn Văn N2; Nơi cư trú: Ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng - Theo Giấy ủy quyền ngày 17/3/2025; (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của người liên quan H1: Bà Lâm Thị Hồng S, sinh năm 1956; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng - Theo Giấy ủy quyền ngày 25/02/2025; (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2017 đến năm 2019, Võ Thị Chúc N với chồng là Nguyễn Minh N1 đã đứng ra tổ chức nhiều dây hụi ngày (20.000 đồng/ngày) cho nhiều người tham gia, thời gian đầu N thực hiện đúng vai trò, trách nhiệm chủ hụi của mình. Vào năm 2019, N tiếp tục mở 02 dây hụi ngày, dây hụi thứ nhất mở ngày 05/3/2019 âm lịch (tức ngày 09/4/2019 dương lịch) có 60 người tham gia với tổng số 1.646 phần hụi. Dây hụi thứ hai mở ngày 13/5/2019 âm lịch (tức ngày 15/6/2019 dương lịch) có 69 người tham gia, với tổng số 2004 phần hụi. Sau đó, 02 dây hụi này chưa kịp mãn hụi thì N tuyên bố ngưng hụi và bỏ đi khỏi địa phương.
Sau đó, Lâm Thị Hồng S, Lục Thị Y, Trần Thị L, Trần Thị Hiền Nguyễn Thị M1, Phan Thị Mỹ P, Lê Thanh H3, Nguyễn Thị H5, Nguyễn Thị Ngọc T7 đến Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tố giác về việc N và chồng là Nguyễn Minh N1 đã chiếm đoạt tài sản (tiền) thông qua hình thức chơi hụi.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chứng minh được: vào năm 2019 N mở 02 dây hụi, loại hụi ngày, trị giá 20.000 đồng/phần hụi, dây hụi thứ nhất mở ngày 05/3/2019 âm lịch (tức ngày 09/4/2019 dương lịch) có 60 người tham gia với tổng số 1.646 phần hụi. Dây hụi thứ hai mở ngày 13/5/2019 âm lịch (tức ngày 15/6/2019 dương lịch) có 69 người tham gia, với tổng số 2004 phần hụi. Cụ thể từng dây hụi như sau:
- Dây hụi thứ nhất: Mở ngày 05/3/2019 âm lịch (nhằm ngày 09/4/2019 dương lịch), loại hụi ngày, trị giá 20.000 đồng/phần hụi, có 60 người tham gia với tổng số 1.646 phần hụi, góp hụi trong 100 ngày thì mãn hụi. Hình thức góp hụi không có khui mỗi ngày, quy định một phần hụi, hụi viên được hưởng tiền chênh lệch là 3.000 đồng/phần hụi, số tiền đóng cho chủ hụi là 17.000 đồng/phần hụi, còn người hốt hụi thì đóng hụi chết là 20.000 đồng/phần hụi. Dây hụi này N đã gom hụi được 88 ngày, còn 12 ngày là mãn hụi.
- Dây hụi thứ hai: Mở ngày 13/5/2019 âm lịch (ngày 15/6/2019 dương lịch), loại hụi ngày, trị giá 20.000 đồng/phần hụi, có 69 người tham gia, với tổng số 2004 phần hụi, tham gia góp hụi trong 100 ngày thì mãn hụi. Hình thức thì cũng giống như dây hụi thứ nhất. Dây hụi này N đã gom hụi được 21 ngày còn 79 ngày là mãn hụi.
Trong từng dây hụi các hụi viên tham gia đều có họ tên, địa chỉ cụ thể, không có trường hợp nào có tên trong danh sách hụi mà không có người cụ thể. Trong từng dây hụi, có người tham gia, có người lĩnh hụi, đối với những người đã lĩnh hụi thì N có nạp tiền hụi đầy đủ và không có trường hợp nào lĩnh hụi mà N không cho hốt. Tuy nhiên, thông qua việc mở 02 dây hụi này, N đã đưa ra thông tin gian dối để bán hụi khống (không phải bán phần hụi của hụi viên nào hết trong 02 dây hụi đã mở, tự bị cáo đưa thông tin gian dối có hụi viên bán) cho các bị hại chiếm đoạt tài sản (tiền) của các bị hại: cụ thể như sau:
Dây hụi mở ngày 05/3/2019 âm lịch (nhằm ngày 09/4/2019 dương lịch), N bán hụi khống cho bị hại Lê Thị H (sinh năm: 1951, nơi thường trú: ấp C, thị trấn C, huyện C, Sóc Trăng) với 60 phần hụi, với số tiền là 102.000.000 đồng.
Dây hụi mở ngày 13/5/2019 âm lịch (ngày 15/6/2019 dương lịch): N bán hụi khống cho bà Diệp Thị Đ1 (sinh năm: 1954, nơi thường trú: ấp C, thị trấn C, huyện C, Sóc Trăng) với 200 phần hụi tổng số tiền là 336.000.000 đồng, bán hụi khống cho bị hại Lê Thị H (sinh năm: 1951, nơi thường trú: ấp C, thị trấn C, huyện C, Sóc Trăng) với 20 phần hụi, với số tiền là 34.000.000 đồng và bán hụi khống cho bị hại Quách Thị K (sinh năm: 1973, nơi thường trú: ấp C, thị trấn C, huyện C, Sóc Trăng) với 150 phần hụi tổng số tiền 249.450.000 đồng
Tổng số tiền N bán hụi khống cho các bị hại trong 02 dây hụi để chiếm đoạt tổng số tiền là 752.815.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 62/CT-VKSST-P2 ngày 12/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Võ Thị Chúc N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thị Chúc N khai nhận hành vi đã thực hiện như Cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Về trách nhiệm dân sự bị cáo đồng ý bồi thường cho các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
* Khi luận tội tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án như sau:
Tuyên bố bị cáo Võ Thị Chúc N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đề nghị xử phạt bị cáo Võ Thị Chúc N từ 10 năm đến 11 năm tù.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) quyển tập hiệu GOODBOOK có ghi dây hụi khui ngày 13 tháng 5;
- 01 (một) quyển tập hiệu T.T BOOK có ghi dây hụi khui ngày 05 tháng 3;
- 01 (một) quyển tập không có bìa có ghi tên người hốt hụi số tiền hốt hụi, ngày hốt hụi ở dây hụi khui ngày 05 tháng 3.
Tất cả các tài liệu trên được đưa vào hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại, người liên quan yêu cầu bị cáo khắc phục hậu quả với tổng số tiền là 1.740.205.000 đồng. Bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả cho 03 bị hại với số tiền 209.000.000 đồng (Trong đó, bị hại Diệp Thị Đ1 với số tiền 150.000.000 đồng; Lê Thị H với số tiền 28.000.000 đồng; Quách Thị K với số tiền 31.000.000 đồng), còn 1.531.205.000 đồng bị cáo đồng ý bồi thường nên đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận.
* Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Thống nhất tội danh. Nguyên nhân bị cáo phạm tội do người chơi hụi giựt hụi nên bị cáo bán hụi khống để tràn hụi, lắp hụi. Thống nhất các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như Kiểm sát viên đề nghị. Trong giai đoạn điều tra bị cáo đã tích cực hợp tác nên đề nghị áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Về hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo mức thấp hơn Kiểm sát viên đề nghị là từ 08 năm đến 09 năm tù là đủ để cải tạo giáo dục đối với bị cáo.
Bị hại Diệp Thị Đ1 yêu cầu bồi thường tổng cộng là: 1.039.140.000 đồng, gồm tiền nợ hụi là 367.140.000 đồng, tiền mua hụi 400 phần hụi là 672.000.000 đồng. Đã nhận 01 xe mô tô của bị cáo tương đương với số tiền theo thỏa thuận là 150.000.000 đồng. Nay yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 889.140.000 đồng.
Bị hại Lê Thị H yêu cầu bồi thường tổng cộng là 167.365.000 đồng, gồm tiền nợ hụi là 31.365.000 đồng và tiền mua hụi 80 phần hụi là 136.000.000 đồng, đã nhận bồi thường được số tiền 28.000.000 đồng. Nay yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 139.365.000 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại Quách Thị K yêu cầu bồi thường tổng cộng là 284.150.000 đồng, gồm tiền nợ hụi là 35.700.000 đồng và tiền mua hụi 150 phần hụi là 249.450.000 đồng, đã nhận bồi thường được số tiền 31.000.000 đồng. Nay yêu cầu bị báo bồi thường số tiền còn lại là 253.150.000 đồng và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lục Thị Y yêu cầu bồi thường số tiền là 135.000.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lâm Thị Hồng S yêu cầu bồi thường số tiền là 173.200.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị M1 yêu cầu bồi thường số tiền là 53.360.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị L yêu cầu bồi thường số tiền là 67.015.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị H1 yêu cầu bồi thường số tiền là 15.900.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lưu Thị Ngọc yêu C bồi thường số tiền là 5.940.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T4 yêu cầu bồi thường số tiền là 13.390.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Hồng T5 yêu cầu bồi thường số tiền là 33.170.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đinh Thị Bé S1 yêu cầu bồi thường số tiền là 23.120.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thanh H3 yêu cầu bồi thường số tiền là 40.360.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị M yêu cầu bồi thường số tiền là 20.670.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Mỹ H4 (mẹ là Phan Thị Mỹ P) yêu cầu bồi thường số tiền là 10.750.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T6 yêu cầu bồi thường số tiền là 4.650.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Ngọc T7 yêu cầu bồi thường số tiền là 13.410.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị T8 yêu cầu bồi thường số tiền là 10.100.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Ánh N4 yêu cầu bồi thường số tiền là 13.175.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tô Thị Mỹ P1 yêu cầu bồi thường số tiền là 21.790.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Thị Ú yêu cầu bồi thường số tiền là 2.770.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lâm Thị Kim P2 yêu cầu bồi thường số tiền là 4.740.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Thanh T15 yêu cầu bồi thường số tiền là 2.150.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Thị T11 yêu cầu bồi thường số tiền là 21.490.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H5 yêu cầu bồi thường số tiền là 8.910.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tăng Thị N5 yêu cầu bồi thường số tiền là 3.570.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị G yêu cầu bồi thường số tiền là 5.000.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Châu Kim S2 yêu cầu bồi thường số tiền là 7.140.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hứa Thị T12 yêu cầu bồi thường số tiền là 5.850.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị K1 (mẹ của Nguyễn Thị Hồng D) yêu cầu bồi thường số tiền là 2.500.000 đồng;
Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại và người liên quan. Riêng đối với bị hại Đ1 thì bị cáo chỉ bán 200 phần hụi với số tiền 336.000.000 đồng nên bị cáo chỉ đồng ý bồi thường 200 phần hụi đã bán với số tiền là 336.000.000 đồng và tiền nợ hụi là 367.140.000 đồng; Bị cáo đã giao xe mô tô giá trị theo thỏa thuận tương đương số tiền 150.000.000 đồng cho bị hại Đ1; Nên bị cáo đồng ý bồi thường số tiền còn lại cho bị hại Đ1 là 553.140.000 đồng. Chồng của bị cáo là Nguyễn Minh N1 có tham gia giúp bị cáo gom, nạp hụi, tuy nhiên, việc bị cáo bán hụi khống cho các bị hại thì N1 không biết.
* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về sự có mặt của người tham gia tố tụng: Mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lục Thị Y, bà Nguyễn Thị M1, bà Trần Thị H1 (B) vắng mặt, nhưng có ông Lục Văn T3, ông Nguyễn Văn N2, bà Lâm Thị Hồng S là người đại diện tham gia phiên tòa; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lưu Thị N3 (Tèo dán xe), bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị H4, bà Trần Thị T8, bà Phan Thị Mỹ P, bà Tô Thị Mỹ P1, bà Đặng Thị Ú, bà Lâm Thị Kim P2 (T9), bà Lê Thị Thanh T10, bà Tăng Thị N5 (C), bà Lê Thị G, ông Châu Kim S2, bà Hứa Thị T12 (T), bà Lữ Thị T14 (Ú), bà Nguyễn Thị Hồng D, ông Nguyễn Minh N1 vắng mặt không rõ lý do. Việc vắng mặt không gây ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 292 và 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021) Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, bị cáo Võ Thị Chúc N đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung vụ án đã nêu ở phần trên. Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Như vậy, đã có đủ căn cứ để xác định: Trong năm 2019, thông qua việc tổ chức 02 dây hụi ngày (ngày 05/3/2019 âm lịch và ngày 13/5/2019 âm lịch), Võ Thị Chúc N đã đưa ra thông tin gian dối về việc có hụi viên trong 02 dây bán phần hụi để cho các bị hại Diệp Thị Đ1, Lê Thị H, Quách Thị K mua các phần hụi của các hụi viên để N chiếm đoạt số tiền 752.815.000 đồng và sử dụng tràn lấp hụi. Do đó, Cáo trạng số 62/CT-VKSST-P2 ngày 12/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Võ Thị Chúc N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Võ Thị Chúc N: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc bán hụi khống cho các bị hại là vi phạm pháp luật. Nhưng chỉ vì muốn có tiền để tràn lắp hụi, mà bị cáo đã bất chấp cố ý trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội để chiếm đoạt tài sản của các bị hại.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo Võ Thị Chúc N là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như thế mới đủ điều kiện và thời gian cải tạo, răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội sau này và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.
[6] Trong vụ án này, Cơ quan điều tra chứng minh được, bị cáo N cũng khai nhận là bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội và mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, cũng cần xem xét tình tiết giảm nhẹ mà Kiểm sát viên và người bào chữa cho bị cáo đặt ra là: Trước khi phạm tội bị cáo không có tiền án, tiền sự; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Trong giai đoạn điều tra và trước khi xét xử vụ án thì bị cáo đã khắc phục cho 03 bị hại được tổng số tiền là 209.000.000 đồng; Bị hại H, K xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại các điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[7] Về hình phạt: Tại phiên tòa, Kiểm sát viên và người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 10 năm tù đến 11 năm tù, là chưa phù hợp với quy định của khoản 1 Điều này, chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo. Bởi lẽ, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này”. Như đã nhận định trên, bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng thuộc khoản 1 Điều 52 và 02 tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này, khi đối trừ với nhau thì bị cáo chỉ còn 01 tình tiết giảm nhẹ quy định ở khoản 1 Điều 51 nên không đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, quy định tại khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Mặt khác, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị cũng chưa đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này ở địa phương nên Hội đồng xét xử không chấp nhận và quyết định một mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo.
[8] Lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định mức hình phạt từ 08 năm đến 09 năm tù là không có căn cứ chấp nhận, theo quy định Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao và Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Toà án nhân dân Tối cao thì tình tiết “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” là trường hợp người phạm tội có những hành vi, lời khai thể hiện sự hợp tác tích cực với cơ quan có trách nhiệm trong việc nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, giúp các cơ quan này phát hiện thêm tội phạm mới hoặc đồng phạm mới". Do đó, bị cáo không đủ điều kiện để được áp dụng tình tiết này.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa bị cáo với bị hại, với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp. Buộc bị cáo bồi thường tổng số tiền 1.531.205.000 đồng cho 03 bị hại và 27 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
[10] Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu giữ 03 quyền tập theo hồ sơ vụ án.
[11] Đối với hành vi của Nguyễn Minh N1 có tham gia giúp bị cáo N gom, nạp hụi, việc bị cáo N bán hụi khống cho các bị hại thì N1 không biết. Nên Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát không khởi tố, truy tố.
[12] Đối với tố giác của bà Lâm Thị Hồng S, Lục Thị Y, Trần Thị L, Trần Thị H1, Nguyễn Thị M1, Nguyễn Thị T4, Phan Thị Mỹ P, Lê Thanh H3, Nguyễn Thị H5, Nguyễn Thị Ngọc T7, tố giác bị cáo N và Nguyễn Minh N1 đã chiếm đoạt số tiền tham gia chơi hụi, đây là hành vi trong giao dịch dân sự. Nên Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự.
[13] Đối với việc bị hại Diệp Thị Đ1 cho rằng: Bị cáo N bán 400 phần hụi khống với số tiền là 672.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra chỉ chứng minh được N chỉ bán 200 phần hụi khống với số tiền 336.000.000 đồng nên yêu cầu cầu này của bị hại chỉ có căn cứ chấp nhận một phần.
[14] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017)
- Căn cứ vào các Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ vào Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021);
- Tuyên bố: Bị cáo Võ Thị Chúc N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Võ Thị Chúc N 12 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2024.
* Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Võ Thị Chúc N bồi thường cho:
- - Bị hại Diệp Thị Đ1 số tiền là 553.140.000 đồng;
- - Bị hại Lê Thị H số tiền là 139.365.000 đồng;
- - Bị hại Quách Thị K số tiền là 253.150.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lục Thị Y số tiền là 135.000.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lâm Thị Hồng S số tiền là 173.200.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị M1 số tiền là 53.360.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị L số tiền là 67.015.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị H1 số tiền là 15.900.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lưu Thị Ngọc số tiền là 5.940.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T4 số tiền là 13.390.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Hồng T5 số tiền là 33.170.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đinh Thị Bé S1 số tiền là 23.120.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thanh H3 số tiền là 40.360.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị M số tiền là 20.670.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Mỹ H4 số tiền là 10.750.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T6 số tiền là 4.650.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Ngọc T7 số tiền là 13.410.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị T8 số tiền là 10.100.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Ánh N4 số tiền là 13.175.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tô Thị Mỹ P1 số tiền là 21.790.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Thị Ú số tiền là 2.770.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lâm Thị Kim P2 số tiền là 4.740.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Thanh T15 số tiền là 2.150.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Thị T11 số tiền là 21.490.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H5 số tiền là 8.910.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tăng Thị N5 số tiền là 3.570.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị G số tiền là 5.000.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Châu Kim S2 số tiền là 7.140.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hứa Thị T12 số tiền là 5.850.000 đồng;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị K1 số tiền là 2.500.000 đồng;
- Về nghĩa vụ thi hành án dân sự:
- + Về nghĩa vụ chậm thi hành án dân sự: Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- + Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
* Về xử lý vật chứng: Quá trình tiếp nhận, thụ lý giải quyết, các bị hại đã giao nộp một số tài liệu liên quan đến việc tham gia chơi hụi như danh sách hụi viên, tin nhắn từng kỳ khui hụi, giấy mua bán hụi, tin nhắn chuyển tiền. Những tài liệu này là chứng cứ được đưa vào hồ sơ vụ án. Các vật chứng này, Cơ quan Cảnh sát điều tra đánh số bút lục và đưa vào hồ sơ vụ án.
* Về án phí:
- - Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Các điều 23, 26 và 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
- - Xử buộc bị cáo Võ Thị Chúc N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 57.936.150 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo:
- - Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021).
- - Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền kháng cáo nhưng vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Lê Vũ Huy Hoàng |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kết tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xử 12 năm tù
