|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 11/2025/HSST Ngày 21 tháng 3 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Hà Văn Hải. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Văn Hào. |
| Bà La Thị Huyền. |
- Thư ký phiên toà: Ông Quang Lương Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoài Nam -Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An và điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh N xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 13/5/1988 tại huyện H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L: Sinh năm: 1958 và bà Hồ Thị H; Sinh năm: 1961; Anh chị em ruột có 04 người bị cáo là con thứ ba trong gia đình, Vợ: Hoàng Thị T1; Sinh năm: 1985. Con: có 02 người; Con lớn nhất sinh năm 2012; Con nhỏ nhất sinh năm 2016.
Tiền sự: Không
Tiền án: Ngày 21/9/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chấp hành xong ngày 26/10/2023, chưa được xóa án tích.
Nhân thân: Ngày 22/7/2012 Có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an huyện N đưa vào cơ sở chữa bệnh.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2024 đến nay; hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.
Người chứng kiến: Anh Hồ Sỹ T2, sinh năm 1986;
2
Địa chỉ: Thôn L, thị trấn T, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 15/12/2024, Nguyễn Văn T đi xe lai từ xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An lên thị trấn T, huyện C, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy. Khi đến khu vực bãi rác thuộc thôn L, thị trấn T huyện C, tỉnh Nghệ An thì xuống xe và gặp một người đàn ông không quen biết dùng số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) để mua được 01 (một) gói bao Potylen màu trắng, bên trong có chứa 01 (một) viên nén màu đỏ là hồng phiến và 01 (một) cục chất bột màu trắng là ma túy loại Heroine. T cầm lấy gói ma túy trong bàn tay trái rồi đi về. Vào khoảng 13 giờ 15 phút khi T đang đi bộ đến cổng Bệnh viện Đ thuộc thôn L, thị trấn T, huyện C, tỉnh Nghệ An thì bị lực lượng công an kiểm tra, bắt quả tang, lập biên bản, niêm phong tang vật và đưa về trụ sở làm việc.
Để có căn cứ giải quyết vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định số: 525/QĐ-CQCSĐT ngày 15/12/2024 về việc trưng cầu giám định: 01 viên nén màu đỏ có khối lượng là 0,095 gam (ký hiệu M1) và 0,02 gam cục chất bột màu trắng (ký hiệu M2) của thu giữ của Nguyễn Văn T.
Kết luận giám định số 1015/KL-KTHS(Đ2 -MT) ngày 18/12/2024 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận:
Mẫu viên nén màu đỏ (ký hiệu M1) thu giữ của Nguyễn Văn T gửi tới giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Viên nén màu đỏ thu giữ của Nguyễn Văn T có khối lượng 0,095g (không phẩy không trăm chín mươi lăm gam).
Mẫu cục chất bột màu trắng (ký hiệu M2) thu giữ của Nguyễn Văn T gửi tới giám định là ma tuý; loại Heroine (H), có tên khoa học: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022.NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất. Số cục chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn T có tổng khối lượng là 0,02g (không phẩy không hai gam)”.
Cáo trạng số: 13/CT-VKS-CC ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm i khoản 1 điều 249, điểm h, khoản 1, Điều 52, điểm s khoản 1, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình
3
sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù; Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu và tiêu hủy số vật chứng còn lại của vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi của mình với các tình tiết như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, Bị cáo không có tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên; Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định pháp luật.
[2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của các bị cáo Nguyễn Văn T tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 13 giờ 15 phút, ngày 15/12/2024, tại cổng Bệnh viện Đ thuộc thôn L, thị trấn T, huyện C, Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,115g (không phẩy một trăm mười lăm gam) chất ma tuý gồm: 0,095g (không phẩy không chín mươi lăm gam) ma túy, loại Methamphetamine và 0,02g (không phẩy không hai gam) ma tuý loại Heroine với mục đích để sử dụng. Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại chất ma túy. Khi phạm tội bị cáo cũng nhận thức ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước cấm, vì ma túy gây tác hại xấu đến kinh tế -
4
xã hội, sức khỏe con người và cũng là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để tàng trữ trái phép, hành vi đó đã làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có tiền án về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy đã chấp hành xong hình phạt nhưng hiện vẫn chưa được xóa án tích, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy hành vi đó phải được xử lý nghiêm minh, cần tuyên phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới đủ điều kiện để vừa tiếp tục cải tạo, giáo dục riêng bị cáo vừa răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xét thấy cần áp dụng tình tiết giảm trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[5] Đối tượng liên quan: Người đàn ông không quen biết tên tuổi đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực bãi rác thôn L, thị trấn T, huyện C. Hiện cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
[6] Về vật chứng vụ án: Số lượng ma túy 01 viên nén màu đỏ có khối lượng 0,095g (không phẩy không trăm chín mươi lăm gam) và 01 gói chất bột màu trắng ma túy heroine có khối lượng là 0,02g (không phẩy không hai gam) đã sử dụng để giám định hết; Vật chứng còn lại 01 phong bì bưu điện loại đang lưu hành, đã được niêm phong, mặt trước phong bì có ghi “Vật chứng còn lại thu giữ của Nguyễn Văn T vào ngày vào ngày 15/12/2024”. Bên trong có chứa: 01 (một) P đã mở niêm phong, 01 mảnh bao potylen màu trắng là vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội danh:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 điều 249, điểm h, khoản 1, Điều 52, điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (H1) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thời gian chấp hành hình phạt tù được tính
5
từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 15/12/2024).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng như sau:
- - 01 phong bì bưu điện loại đang lưu hành, đã được niêm phong, mặt trước phong bì có ghi “Vật chứng còn lại thu giữ của Nguyễn Văn T vào ngày 15/12/2024”. Bên trong có 01 Phong bì thư bưu điện đã mở niêm phong và 01 bao potylen màu trắng. (Đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng số 19 ngày 25/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/3/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Hải |
Bản án số 11/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 11/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Tiến - Tàng trữ trái phép chất ma túy
