Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÔNG HINH

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày 19-3-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Đông

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Niê Y Ling.

Ông Phạm Hồng Thái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 03 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh tỉnh Phú Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Dương Minh T (tên khác: Không), sinh ngày 06/3/1974 tại Phú Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; nơi cư trú: Thôn M, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Dương Văn T1 (chết) và bà Nguyễn Thị S (chết); vợ: Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1982; con: có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/5/2024 đến ngày 29/01/2025 tại xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên. Bị cáo tại ngoại có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Ngọc L (tên gọi khác: Không), sinh ngày 03/04/1976 tại Quảng Trị. nghề nghiệp: Kỹ sư xây dựng; trình độ học vấn: 12/12; nơi cư trú: Khu phố N, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1934 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1944; vợ: Đặng Thị Kim A, sinh năm 1977; con: có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/8/2024 đến ngày 06/01/2025 tại thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên. Bị cáo tại ngoại có mặt.

Bị hại: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1986 (đã chết).

Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim T3, sinh năm 1988; trú tại: Khu phố P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

Người làm chứng:

  1. Ông Võ Hoài Â, sinh năm 1985; trú tại: Thôn C, xã Đ, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt
  2. Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1989; trú tại: Khu phố B, thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 07/3/2024 Nguyễn Ngọc L là Giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn P đã thuê Dương Minh T không có chứng chỉ hành nghề để điều khiển xe máy đào hiệu KOMATSU PC210 đào đất để thi công tuyến đường bộ từ thôn T, xã Đ đến thôn D, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Trong lúc T đang điều khiển xe máy đào để đào đất và quay gầu qua bên trái để đổ đất, do không chú ý quan sát để đảm bảo an toàn đã làm phần sau của xe máy đào chèn ông Nguyễn Văn Đ là người quản lý nhân công xây dựng công trình vào ta ly đất bên phải của xe máy đào. Hậu quả làm ông Đ chết.

Tại bản kết luận giám định tử thi số 102/GĐPY-PC09 ngày 18/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận: Anh Nguyễn Văn Đ chết do đa chấn thương, gãy vỡ nhiều xương, giập rách nhiều tạng.

Tại bản kết luận giám định số 95/KL-KTHS ngày 15/3/2024 Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Không tìm thấy E (cồn) trong máu Nguyễn Văn Đ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa:

Bị cáo Dương Minh T và Nguyễn Ngọc L khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, khẳng định Cáo trạng đã truy tố là đúng, không oan sai, ăn năn hối hận về hành vi của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Đã được T và L bồi thường 99.000.000 đồng (T 44.500.000 đồng, L 54.500.000 đồng). Các bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại tự nguyện thoả thuận: Các bị cáo Dương Minh T, Nguyễn Ngọc L cấp dưỡng nuôi 02 con của bị hại là Nguyễn Thùy D sinh ngày 30/3/2014 và Nguyễn Trọng Hiếu sinh ngày 26/02/2016 số tiền 1.000.000 đồng/tháng/bị cáo kể từ tháng 4/2025 cho đến khi các con thành niên và có khả năng lao động. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm và xin miễn trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Vật chứng vụ án: Xe máy đào hiệu KOMATSU PC210; 01 Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; 01 Giấy công bố nội dung đăng ký thành lập mới; 03 Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp; Quyết định về việc phê duyệt kết quả đấu thầu thi công xây lắp gói thầu 01XL công trình: sửa chữa cầu đường từ cầu S đi buôn D.

Bản cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh truy tố bị cáo Dương Minh T về tội Vô ý làm chết người, theo quy định tại khoản 1 Điều 128 BLHS; truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc L về tội Vi phạm quy định về an toàn lao động quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 BLHS.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Minh T phạm tội Vô ý làm chết người; áp dụng khoản 1 Điều 128 BLHS, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt: Dương Minh T từ 18 tháng đến 24 tháng tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng đến 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Giao bị cáo cho UBND xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên và gia đình quản lý, giám sát trong thời gian thử thách;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội Vi phạm quy định về an toàn lao động; áp dụng điểm a khoản 1, 5 Điều 295 BLHS, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt: Nguyễn Ngọc L từ 18 tháng 24 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng đến 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Giao bị cáo cho UBND thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên và gia đình quản lý, giám sát trong thời gian thử thách; về trách nhiệm bồi thường dân sự: Các bị cáo, và gia đình bị hại tự nguyện thỏa thuận phần bồi thường và cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên của bị hại là đúng pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Phạt bổ sung bị cáo L từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến gì về quyết định truy tố, quan điểm luận tội của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Dương Minh T, Nguyễn Ngọc L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Bị cáo Nguyễn Ngọc L là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, là giám đốc công ty TNHH P (hoạt động trong lĩnh vực thi công xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật...), trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2024 đến ngày 07/3/2024, tại huyện S, tỉnh Phú Yên đã thuê Dương Minh T không có chứng chỉ nghề lái máy đào để điều khiển xe máy đào hiệu KOMATSU PC210 xúc đổ đất thi công tuyến đường bộ từ thôn T, xã Đ đến buôn D, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; sử dụng máy đào hiệu KOMATSU PC210 không có gương chiếu hậu, không đảm an toàn trong quá trình lao động, hậu quả làm anh Nguyễn Văn Đ bị tai nạn trong quá trình thực hiện công việc dẫn đến tử vong.

Hành vi của Nguyễn Ngọc L đã vi phạm quy định của Nhà nước về an toàn lao động, vi phạm quy định tại khoản 2, 5 Điều 16 Luật an toàn, vệ sinh lao động và tiểu mục 2.5.1.2; 2.5.2.8.5 mục 2.5 Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn trong thi công xây dựng QCVN 18:2021/BXD ban hành theo Thông tư số 16/2021/TT-BXD ngày 20/12/2021 của Bộ X, gây thiệt hại cho tính mạng của người khác. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.

Bị cáo Dương Minh T không được đào tạo nghề lái xe chuyên dụng (xe máy đào) nhưng vẫn nhận lái máy đào thi công công trình, không có kỹ năng, thiếu quan sát nên trong quá trình vận hành xe máy đào xúc, đổ đất đã làm cho phần sau xe máy đào chèn ông Nguyễn Văn Đ vào ta ly đất bên phải của xe, hậu quả làm Đính chết là vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 16 Bộ luật lao động và điểm d mục 2.1.1.5 Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn trong thi công xây dựng QCVN 18:2021/BXD ban hành theo Thông tư số 16/2021/TT-BXD ngày 20/12/2021 của Bộ X. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vô ý làm chết người”.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc L về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo điểm a khoản 1 Điều 295; truy tố bị cáo Dương Minh T về tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Ngọc L, Dương Minh T đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại, được gia đình bị hại bãi nại xin miễn trách nhiệm hình sự; bị cáo Nguyễn Ngọc L còn có mẹ, ông bà nội, ngoại là người có công với nước, bản thân bị cáo cũng có nhiều thành tích đóng góp cho địa phương được ghi nhận. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.

[5] Về nhân thân: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt.

[6] Về hình phạt: Hành vi của bị cáo Dương Minh T, Nguyễn Ngọc L là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại cho tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, nên cần xét xử nghiêm đối với các bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử xét thấy áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo về chính quyền địa phương giám sát, giáo dục là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật, đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với các bị cáo, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 295 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Ngọc L 15.000.000 đồng là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Nguyễn Ngọc L đã bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 54.500.000 đồng, bị cáo Dương Minh T đã bồi thường 44.500.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm.

Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của các bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại: Các bị cáo Dương Minh T, Nguyễn Ngọc L cấp dưỡng nuôi 2 con của bị hại là Nguyễn Thùy D, sinh ngày 30/3/2014 và Nguyễn Trọng H1, sinh ngày 26/02/2016 số tiền 1.000.000 đồng/tháng/bị cáo kể từ tháng 4/2025 cho đến khi các con thành niên và có khả năng lao động.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 BLHS, Cơ quan điều tra Công an huyện S đã trả: Xe máy đào hiệu KOMATSU PC210; 01 Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; 01 Giấy công bố nội dung đăng ký thành lập mới; 03 Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp; Quyết định về việc phê duyệt kết quả đấu thầu thi công xây lắp gói thầu 01XL công trình: sửa chữa cầu đường từ cầu S đi buôn D cho công ty TNHH P là đúng pháp luật.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23, khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Ngọc L, Dương Minh T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng 500.000 đồng án phí.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”; bị cáo Dương Minh T phạm tội “Vô ý làm chết người”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 BLHS 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Dương Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Căn cứ vào điểm a khoản 1, 5 Điều 295; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 BLHS 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Ngọc L 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).

Giao bị cáo Dương Minh T cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Nguyễn Ngọc L cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện S, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Các bị cáo Dương Minh T, Nguyễn Ngọc L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi 2 con của bị hại là Nguyễn Thùy D, sinh ngày 30/3/2014 và Nguyễn Trọng H1, sinh ngày 26/02/2016 số tiền 1.000.000 đồng/tháng/bị cáo kể từ tháng 4/2025 cho đến khi các con thành niên và có khả năng lao động.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc L, Dương Minh T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng) án phí.

Các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND H. Sông Hinh;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - Công an H. Sông Hinh;
  • - Bị cáo; đại diện bị hại;
  • - THADS huyện Sông Hinh;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lương Thị Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN về vụ án hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Minh T phạm tội Vô ý làm chết người, Nguyễn Ngọc L phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger