TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18/3/2025
“V/v ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Mỹ Dung
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Oanh Kiều
Ông Phạm Thiện Bửu
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Bảo Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Sóc - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án Nhân dân thành phố Hồng Ngự, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/02/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 30/2025/QÐST-HNGĐ ngày 11/3/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Ngô Văn C, sinh năm 1966 (có mặt);
Địa chỉ cư trú: Số A, Đường N, Khóm E, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp;
Địa chỉ tạm trú: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị Bích L, sinh năm 1975 (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Ngô Văn C trình bày: Vào năm 2019 tôi và bà Phạm Thị Bích L tự chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống không có con chung, gần đây phát sinh nhiều mâu thuẫn nên không còn sống
chung với nhau từ tháng 9/20023 đến nay. Do mâu thuẫn ngày càng thêm trầm trọng nên chúng tôi không thể hàn gắn được, vì vậy tôi yêu cầu: Về tình cảm yêu cầu ly hôn với bà Phạm Thị Bích L; về con chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn bà Phạm Thị Bích L trình bày: Vào năm năm 2019 tôi với anh Ngô Văn C tìm hiểu và chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống cùng nhau lo làm ăn bình thường, tôi có yêu cầu anh C đi đăng ký kết hôn nhưng anh C không chịu mà lại đi xác nhận độc thân, tôi hay sự việc nên xảy ra mâu thuẫn vợ chồng, đến nay, tôi và anh C chung sống không có con chung. Về tài sản chung thì tôi và anh C có mua chung căn nhà và đất hiện nay tôi và anh C đang ở sinh sống do tôi đứng tên. Nay anh C yêu cầu ly hôn với tôi, tôi thống nhất ly hôn với anh C. Về con chung không có; về tài sản chung tôi và anh C tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa bị đơn bà Phạm Thị Bích L có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị: Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông Ngô Văn C và bà Phạm Thị Bích L.Về con chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ kiện tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa nguyên đơn ông Ngô Văn C có mặt, bị đơn bà Phạm Thị Bích L có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án: Xét việc nguyên đơn ông Ngô Văn C yêu cầu ly hôn với bà Phạm Thị Bích L, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hôn nhân: Hôn nhân giữa ông Ngô Văn C và bà Phạm Thị Bích L tự tìm hiểu, chung sống với nhau vào năm 2019 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, như vậy hôn nhân giữa ông C với bà L là hôn nhân không hợp pháp.
Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định như sau:
“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.
2. Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn.”
Xét thấy mặc dù ông Ngô Văn C và bà Phạm Thị Bích L đồng ý tự nguyện ly hôn theo yêu cầu ông Ngô Văn C, nhưng do ông Ngô Văn C và bà Phạm Thị Bích L không có đăng ký kết hôn nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Ngô Văn C với bà Phạm Thị Bích L là hoàn toàn phù hợp và đúng theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Ông Ngô Văn C và bà Phạm Thị Bích L không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí sơ thẩm: Ông Ngô Văn C là nguyên đơn nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 9, 14, 53 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Ngô Văn C và bà Phạm Thị Bích L.
- Về con chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu toà án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Ngô Văn C phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà ông Ngô Văn C đã nộp 300.000đ theo biên lai số 0012336 ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự. Ông Ngô Văn C đã nộp đủ án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
“Trong trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014)".
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Bùi Minh Châu Nguyễn Thị Oanh K | Phan Thị Mỹ D |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa ông C với bà L
