|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày: 17/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Sỹ Cường và bà Hoàng Thị Thu Hà
Thư ký phiên toà: Ông Trần Ngọc Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đặng Hồng Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Công N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 10/9/1981 tại huyện N, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên cha: Nguyễn Công H (đã chết). Họ và tên mẹ: Đặng Thị T (đã chết). Anh chị em ruột: Có 05 người, bị can là con thứ năm. Họ và tên vợ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1991. Con: Có 05 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2024. Tiền sự, Tiền án: Không. Bị can bị tạm giữ từ ngày 04/12/2024 đến ngày 07/12/2024 thì được trả tự do, áp dụng "Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú" và "Quyết định tạm hoãn xuất cảnh" từ ngày 07/12/2024 cho đến nay tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn T1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 11/02/1975 tại huyện N, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên cha: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1944. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1946. Anh chị em ruột: Có 07 người, bị can là con thứ ba. Họ và tên vợ: Nguyễn Thị T3, sinh năm 1977. Con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2020. Tiền sự, Tiền án: Không. Bị can bị tạm giữ từ ngày 04/12/2024 đến ngày 07/12/2024 thì được trả tự do, áp dụng "Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú" và "Quyết định tạm hoãn xuất cảnh" từ ngày 07/12/2024 cho đến nay tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
3. Họ và tên: Nguyễn Văn H2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 24/02/1971 tại huyện N, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo. Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên cha: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1944. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1946. Anh chị em ruột: Có 07 người, bị can là con thứ hai. Họ và tên vợ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1978. Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2000. Tiền sự, Tiền án: Không. Bị can bị tạm giữ từ ngày 04/12/2024 đến ngày 07/12/2024 thì được trả tự do, áp dụng "Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú" và "Quyết định tạm hoãn xuất cảnh" từ ngày 07/12/2024 cho đến nay tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
4. Họ và tên: Phạm Khắc T4; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 29/4/1993 tại huyện N, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ và tên cha: Phạm Khắc H3, sinh năm 1963. Họ và tên mẹ: Phạm Thị B (đã chết). Anh chị em ruột: Có 05 người, bị can là con thứ ba. Họ và tên vợ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1994. Con: Có 02 con, đều sinh năm 2024. Tiền sự, Tiền án: Không. Bị can bị tạm giữ từ ngày 04/12/2024 đến ngày 07/12/2024 thì được trả tự do, áp dụng "Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú" và "Quyết định tạm hoãn xuất cảnh" từ ngày 07/12/2024 cho đến nay tại xóm K, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/12/2024, Nguyễn Công N, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn H2, Phạm Khắc T4 rủ nhau đến nhà chị Nguyễn Thị N1 (sinh năm 1995, chị N1 là con dâu của Nguyễn Văn H2) ở xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An để uống rượu. Sau khi uống rượu xong, thấy trong nhà chị N1 có để sẵn 01 bộ bài Túlơkhơ, chị N1 đi vắng, không có mặt ở nhà thì N, T1, H2, T4 cùng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh bài "Phỏm", "ù" mỗi ván 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) tại khu vực tầng hai nhà chị N1. Đến 12 giờ 50 phút cùng ngày, khi Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Công N, Phạm Khắc T4 đang đánh bạc thì bị Tổ công tác Đội Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện N phối hợp với Công an các xã N, N, huyện N phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 11.600.000 đồng (Mười một triệu sáu trăm nghìn đồng) và 01 bộ bài Túlơkhơ có 52 quân bài).
Hình thức đánh "Phỏm" được quy ước như sau: "Phỏm" là bộ 03 quân bài trở lên có cùng chất và số liên tiếp nhau (ví dụ: 6 bích, 7 bích, 8 bích) hoặc 03 quân bài trở lên không cùng chất nhưng có cùng số (ví dụ: 6 cơ, 6 rô, 6 chuồn). “Bài lẻ” là những quân bài không ghép được thành "Phỏm" nào. Bắt đầu mỗi ván chơi, người đánh đầu tiên sẽ được chia 10 quân bài, những người còn lại mỗi người được chia 09 quân bài, số bài còn lại được đặt ở giữa chiếu bạc. Người chơi đầu tiên sẽ đánh ra 01 quân bài, người chơi tiếp theo sẽ được quyền ăn quân bài đó nếu quân bài đó ghép được thành "Phỏm" với những quân bài khác mà người đó đang có hoặc nếu không ăn được thì người chơi đó sẽ phải bốc thêm 01 quân bài trong số bài để ở giữa chiếu. Sau khi ăn bài hoặc bốc bài thì người chơi phải đánh ra 01 quân bài. Cứ tiếp tục như vậy cho đến khi hết vòng. Ván bài sẽ kết thúc khi có một người chơi "ù", là trường hợp một người chơi có 09 quân bài đều ghép được thành "Phỏm" và không có "Bài lẻ", khi đó tất cả các người chơi còn lại phải đưa cho người "ù" 250.000 đồng. Nếu trong số những người chơi không có người "ù", sau 04 lượt ván bài sẽ kết thúc. Khi đến lượt cuối thì người chơi phải hạ tất cả "Phỏm" của mình xuống, số "Bài lẻ" thì được giữ lại để tính điểm với nhau. Cách tính điểm từ quân bài A đến quân bài 9, 10, J, Q, K lần lượt tương ứng với số điểm từ 1 đến 13. Kết quả, người có số điểm thấp nhất là người thắng cuộc; người thấp điểm thứ hai, thứ ba, thứ tư lần lượt phải trả số tiền lần lượt là 50.000 đồng, 100.000 đồng, 150.000 đồng cho người thắng cuộc. Trường hợp người chơi khi kết thúc ván bài mà không có "Phỏm" nào thì bị coi là "Cháy" và phải trả cho người thắng cuộc số tiền là 200.000 đồng.
Kết quả điều tra xác định tổng số tiền 11.600.000 đồng (Mười một triệu sáu trăm nghìn đồng) thu giữ trên chiếu bạc là tiền các đối tượng dùng đánh bạc. Trong đó, xác định số tiền dùng đánh bạc của từng người là: Nguyễn Công N: 4.000.000 đồng, Nguyễn Văn T1:3.900.000 đồng, Nguyễn Văn H2: 3.400.000 đồng, Phạm Khắc T4: 300.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định số 241/KL-KTHS(Đ3-TL) ngày 12/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
"Số tiền 11.600.000 đồng (mười một triệu sáu trăm nghìn đồng) gồm: 14 (mười bốn) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), 13 (mười ba) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), 14 (mười bốn) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), 12 (mười hai) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) gửi giám định là tiền thật".
Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS-NL ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Công N, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn H2 và Phạm Khắc T4 về tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo mức hình phạt từ 20.000.000 đồng đến 23.000.000 đồng.
Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài Túlơkhơ có 52 quân bài. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 11.600.000 đồng.
Các bị cáo nhận tội, không tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài "Phỏm", được thua bằng tiền với số tiền dùng đánh bạc là 11.600.000 đồng vào hồi 12 giờ 50 phút ngày 04/12/2024, tại nhà của chị Nguyễn Thị N1 ở xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An của Nguyễn Công N, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn H2, Phạm Khắc T4 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng quy định pháp luật.
[3]. Về tính chất vụ án; nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự trị an công cộng, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương và gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế của gia đình các bị cáo. Vì vậy cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, để có tính chất răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, các bị cáo không có sự bàn bạc chặt chẽ về việc thực hiện hành vi phạm tội, mà đều tham gia với vai trò thực hành tích cực. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Công N, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn H2 dùng số tiền vào việc đánh bạc lớn hơn nên chịu mức trách nhiệm hình sự chính.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo khác không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm; quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo Nguyễn Công N có bố và mẹ là người có công với cách mạng, được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất; Nguyễn Văn H2 và Nguyễn Văn T1 có bố là người có công với cách mạng, được Bộ cấp chứng nhận tham gia dân công hỏa tuyến; Phạm Khắc T4 có ông nội là người có công với cách mạng, được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất - là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Xét các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, số tiền dùng vào việc đánh bạc không lớn nên cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ nghiêm.
[6] Về vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đối với số tiền 11.600.000 đồng là số tiền dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã cũ không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7]. Tại thời điểm xảy ra vụ án, chị Nguyễn Thị N1 đi vắng, không có mặt ở nhà, không biết việc các bị can tự ý đánh bạc tại nhà ở của mình nên không phạm tội.
[8] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công N, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn H2 và Phạm Khắc T4 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự;
Phạt tiền Nguyễn Công N: 22.000.000 (Hai mươi hai triệu) đồng;
Phạt tiền Nguyễn Văn T1: 22.000.000 (Hai mươi hai triệu) đồng
Phạt tiền Nguyễn Văn H2: 22.000.000 (Hai mươi hai triệu) đồng
Phạt tiền Phạm Khắc T4: 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng
2. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 11.600.000 đồng. Hiện đang được lưu giữ tại Kho bạc Nhà nước N2 (cũ) theo Bảng kê nhập tài sản quý và Biên bản giao nhận tài sản ngày 13/12/2024.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã cũ. (Hiện bảo quản tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Lộc theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/02/2025).
3. Án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Buộc các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hoa |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN về hình sự
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
