Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HS-PT

Ngày: 14-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Anh Luyện.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Cường, bà Vũ Mỹ Lệ.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Trung - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Hà Giang tham gia phiên toà: Bà Phùng Ngọc M - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 10/2025/TLPT-HS ngày 12/02/2025 đối với các bị cáo: Ban Văn D và Chương Văn T do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2024/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Ban Văn D, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1974, tại huyện V, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; CCCD số [...], cấp ngày 08/7/2022; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C2; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ban Văn C (đã chết); con bà Hoàng Thị M1, sinh năm 1947; có vợ Hoàng Thị Đ, sinh năm 1974; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Ngày 27/9/2005 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt 21 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đã được xóa án tích.

Năm 2014 bị Công an huyện V, tỉnh Hà Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” với mức phạt 1.500.000 đồng theo Quyết định xử phạt hành chính số 193/QĐ-XPHC, ngày 20/8/2014, đã được xóa tiền sự.

Năm 2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt 06 tháng 27 ngày tù về tội “Tổ chức đánh bạc” theo bản án số 39/2016/HSST, ngày 02/8/2016, đã được xóa án tích; năm 2019 bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt 33

tháng tù về tội “Đánh bạc” theo bản án số 625/2019/HSPT ngày 15/10/2019, đã được xóa án tích.

Bị cáo D bị bắt tạm giữ kể từ ngày 16/6/2024 đến ngày 24/6/2024 được tại ngoại, đang áp dụng theo Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú số: 97/2024/HSST-QĐ ngày 15/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

2. Chương Văn T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1982, tại huyện V, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; CCCD số [...], cấp ngày 25/6/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ C2; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chương Văn T1 (đã chết); con bà Đặng Thị K, sinh năm 1950; có vợ Chương Thị G, sinh năm 1985; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền sự: Không.

Tiền án: 02 tiền án, năm 2021 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” theo bản án số 37/2021/HSST, ngày 25/6/2021; năm 2022, bị Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang xử phạt 12 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo bản án số 11/2022/HSST, tổng hợp với 9 tháng cải tạo không giam giữ tại bản án số 37/2021/HSST ngày 25/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang, T phải chấp hành 13 tháng 01 ngày tù. Đến ngày 23/8/2023, Chương Văn T chấp hành xong hình phạt tù. Chưa được xóa án tiền án.

Về nhân thân: Ngày 25/09/2020, Công an xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức phạt tiền. Đã được xóa tiền sự.

Bị cáo T bị bắt tạm giữ từ ngày 16/6/2024 đến ngày 24/6/2024 được tại ngoại, đang áp dụng theo Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú số: 103/2024/HSST-QĐ ngày 15/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ sáng ngày 15/6/2024, Lê Văn P, sinh năm 1974; HKTT: thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang đi một mình từ nhà đến thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang để mổ thịt bò bán và trả nợ tiền mua vườn cây gỗ keo cho gia đình Lý Văn L, sinh năm 1968; HKTT: thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang. Sau khi bán hết thịt, P ăn cơm tại nhà Chương Văn A, trú tại thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang cùng với Ban Văn D, sinh năm 1974; HKTT: thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang; Chương Văn Đ1, sinh năm 2002, Bàn Văn T2, sinh năm 1995 cùng trú tại thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang. Khoảng 14 giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm xong, P đi bộ đến nhà Lý Văn L để trả nợ tiền cho L

thì D, T2, Đ1 cùng đi theo P. Sang đến nơi do không thấy Lý Văn L ở nhà nên P, Đ1, D đi đến nhà Đặng Văn C1, sinh năm 1966; HKTT: thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang chơi, còn Bàn Văn T2 ngồi uống nước tại nhà L một lúc rồi đi về. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Đ1 và D quay lại nhà Lý Văn L ngồi uống nước, tại đây Ban Văn D rủ Đ1 “chú cháu mình ở đây buồn làm tí nhỉ”, Đ1 hiểu ý D là rủ đánh bạc được thua bằng tiền nên đồng ý, khi đó L đang đứng gần đó cũng nghe thấy D rủ Đ1 như vậy nên L nói “tí còn phải đi bốc gỗ, chúng mày muốn chơi thì ra ngoài chơi, không được ở nhà”. Sau đó Đ1 đi xuống bếp nhà L lấy 01 chiếc bát sứ, 01 đĩa sứ màu trắng, có in hoa văn và nhặt 01 que đóm bằng tre, bẻ thành 04 mảnh nhỏ để làm quân vị rồi dùng than bếp củi bôi một mặt quân vị màu đen, một mặt giữ nguyên màu trắng. Lúc này, Chương Văn T, sinh năm 1982, Chương Văn Ã, sinh năm 1971 cùng trú tại thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang, cũng đến nhà Lý Văn L ngồi chơi uống nước, khi thấy Đ1 mang bát, đĩa, que đóm và chải chiếu ra sân trước cổng nhà L thì mọi người đều hiểu là Đ1 đang chuẩn bị dụng cụ để đánh bạc, hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền nên tất cả cùng ngồi xuống chiếu tham gia. Khi đó, Ban Văn D đi gọi P, P ra trước cổng nhà Lý Văn L thấy mọi người đang tập trung ngồi dưới chiếu và có các dụng cụ để đánh bạc trên chiếu nên tự hiểu là mọi người chuẩn bị chơi đánh bạc, hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền nên P cũng ngồi xuống tham gia cùng D, L, Đ1, T và Ả. Trước khi bắt đầu chơi, Ban Văn D quay sang nói với Lê Văn P “có tiền đưa 2.000.000 đồng để làm bảng vị”, P đồng ý và đưa cho D 2.000.000 đồng rồi P và Ả cùng nói với D cho làm chung bảng vị, D đồng ý. D, P và Ả cùng thống nhất sau khi đánh bạc xong ba người sẽ chia đều nhau số tiền gốc và lãi từ việc những người chơi đặt tiền cá cược thắng thua, mọi người ngồi trên chiếu bạc đều biết việc chung nhau bảng vị của D, P và Ả. D chuẩn bị 05 lá bài tú lơ khơ để sử dụng làm bảng vị (gồm 01 lá bài tú lơ khơ quân 2 cơ, 01 lá bài tú lơ khơ quân 3 cơ, 01 lá bài tú lơ khơ quân 3 bích, 01 lá bài tú lơ khơ quân 4 rô và 01 lá bài tú lơ khơ quân 4 tép).

Sau đó, tất cả cùng ngồi quây tròn để đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền Việt Nam, Lê Văn P là người xóc cái, để 04 quân vị vào đĩa, úp bát lên xóc đều rồi đặt xuống chiếu bạc. Khi đó tất cả đặt cược với nhau theo hai cửa chẵn và lẻ, quy định bên tay phải của P là cửa chẵn, bên tay trái của P là cửa lẻ. Người chơi lựa chọn và đặt tiền vào cửa chẵn hoặc lẻ, số tiền đặt cược tùy theo ý thích của mỗi người, tỷ lệ thắng thua là 1-1, tức là đặt cược bao nhiêu tiền thì sẽ thắng hoặc thua bằng với số tiền đã đặt cược. Khi mở bát ra có 04 quân vị cùng một màu (màu đen hoặc màu trắng) hoặc 02 quân màu đen, 02 quân trắng thì là chẵn, người đặt cửa chẵn thắng, người đặt cửa lẻ thua. Còn nếu mở bát ra có 03 quân vị màu đen, 01 quân vị màu trắng hoặc 03 quân vị màu trắng, 01 quân vị màu đen thì là lẻ, người đặt cửa lẻ thắng, người đặt cửa chẵn thua. Đối với chơi vị, cách thức chơi như sau: Kết quả của đánh bảng vị dựa theo kết quả của 04 quân vị khi mở bát. Các quân bài chất tép hoặc bích sẽ tương ứng với quân vị màu đen, quân bài chất rô hoặc cơ sẽ tương ứng với quân vị màu trắng. Khi người chơi đặt tiền vào quân 02 cơ, nếu mở bát ra có 02 quân vị màu trắng tương ứng với quân vị đã đặt cược thì người đặt cược thắng, người

quản lý bảng vị thua và ngược lại. Khi người chơi đặt tiền vào quân 03 bích hoặc quân 03 cơ, nếu mở bát ra có 03 (ba) quân vị có cùng màu tương ứng với quân vị đã đặt cược thì người đặt cược thắng, người quản lý bảng vị thua và ngược lại. Khi người chơi đặt tiền vào quân 04 tép hoặc quân 04 rô, nếu mở bát ra có cả 04 quân vị có cùng màu tương ứng với quân vị đã đặt cược thì người đặt cược thắng, người quản lý bảng vị thua và ngược lại, tỷ lệ thắng thua là 1:3.

Chơi được một lúc thì Bàn Văn T2, sinh năm 1995, Bàn Văn H, sinh năm 1982, Lý Văn G1, sinh năm 1971 cùng trú tại thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang cũng đến tham gia chơi đánh bạc cùng mọi người. Quá trình chơi, Dương cầm 2.000.000 đồng tiền làm bảng vị khoảng 20 phút thì đưa cho P cầm tiền, khi Dương cầm tiền thì có L đặt cược 02 lần, mỗi lần 50.000 đồng vào bảng vị, nhưng bị thua (theo lời khai của Lý Văn L), khi P cầm tiền thì có Đ1 đặt cược 5.000 đồng vào bảng vị và thắng nên được P trả 15.000 đồng. Lý Văn L sau khi đặt cược 2 lần vào bảng vị và bị thua thì đứng lên đi bốc gỗ cùng gia đình, đến khoảng 17 giờ cùng ngày L về nhà và tham gia chơi chẵn, lẻ cùng các bị cáo khác được một lúc thua hết tiền nên nghỉ trước và đi vào nhà.

Các đối tượng tham gia đánh bạc với nhau đến 19 giờ 00 phút cùng ngày thì bị cơ quan chức năng phát hiện và bắt quả tang Lê Văn P, Lý Văn G1 bị bắt tại chỗ, còn Ban Văn D, Chương Văn Ã, Chương Văn Đ1, Bàn Văn T2, Bàn Văn H, Lý Văn L và Chương Văn T bỏ trốn khỏi hiện trường, sau đó đã tự đến cơ quan Công an huyện V, tỉnh Hà Giang đầu thú và khai báo về hành vi phạm tội.

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 19 giờ 00 phút, ngày 15/6/2024: Tạm giữ tại chỗ 01 bát con bằng sứ màu trắng, 01 đĩa bằng sứ màu trắng, 04 mảnh tre nhỏ hình chữ nhật, một mặt màu đen, một mặt màu trắng, 01 chiếu bằng nhựa màu xanh-trắng-đỏ-vàng, 05 quân bài tú lơ khơ, hai mặt xanh-trắng (có số 2,3,4) và thu giữ số tiền trên chiếu bạc là: 5.747.000 đồng. Ngoài ra, thu giữ trên người bị cáo Lê Văn P số tiền: 67.000.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 234/KL-KTHS ngày 21/6/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận 47 tờ tiền Việt Nam gửi giám định đều là tiền thật (có bản kê mệnh giá tiền và số seri kèm theo).

Trước cơ quan điều tra các bị cáo Ban Văn D, Chương Văn Đ1, Lê Văn P, Chương Văn Ả, Bàn Văn H, Bàn Văn T2, Chương Văn T và Lý Văn G1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đã khai nhận số tiền tham gia đánh bạc cụ thể là: Lê Văn P có số tiền 2.200.000 đồng (trong đó 2.000.000 đồng làm chung bảng vị với D và Ả, còn 200.000 đồng dùng để chơi chẵn, lẻ), Bàn Văn H có 1.100.000 đồng, Bàn Văn T2 có 800.000 đồng, Chương Văn T có 600.000 đồng, Lý Văn G1 có 100.000 đồng, Chương Văn Đ1 có 447.000 đồng. Quá trình điều tra vụ án, CQĐT xác định ngoài 08 bị cáo bị bắt quả tang và ra đầu thú, còn có Lý Văn L cũng tham gia đánh bạc nhưng chưa khai nhận hành vi phạm tội. Ngày 09/8/2024, Cơ quan điều tra đã triệu tập bị cáo L đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Lý Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo L khai nhận số tiền tham gia đánh bạc là 500.000 đồng. Tổng số tiền các

bị cáo dùng để đánh bạc là 5.747.000 đồng. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả xác định hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Ban Văn D và Chương Văn T phạm tội “Đánh bạc".

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự; Điều 123 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Ban Văn D 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Được khấu trừ thời hạn bị bắt tạm giữ từ ngày 16/6/2024 đến ngày 24/6/2024.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự; Điều 123 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Chương Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Được khấu trừ thời hạn bị bắt tạm giữ từ ngày 16/6/2024 đến ngày 24/6/2024.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt của các bị cáo không có kháng cáo, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Trong thời hạn luật định, bị cáo Ban Văn D có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo và bị cáo Chương Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo

Bà Hoàng Thị Đ, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyên V, tỉnh Hà Giang là vợ bị cáo đã nộp thay cho bị cáo Ban Văn D những tài liệu, chứng cứ sau: 01 bản sao Huân chương kháng chiến mang tên Hoàng Đức H1; 01 bản sao Bằng khen mang tên Hoàng Văn T3; 01 bản sao Giấy khen mang tên Ban Văn D.

Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo D, T giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang sau khi phân tích đánh giá các tình tiết của vụ án và nhận định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Ban Văn D và Chương Văn T về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; mức hình phạt đối với các bị cáo tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Sau khi xét xử sơ thẩm và trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Ban Văn D và Chương Văn Thinh K1 giao nộp thêm tài liệu chứng cứ mới để làm căn cứ cho việc kháng cáo của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ban Văn D và Chương Văn T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.

Trong phần tranh luận: Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận đơn kháng cáo và cho bị cáo được hưởng án treo, để sớm hoà nhập cộng đồng và gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
  2. Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Ban Văn D và Chương Văn T có đơn kháng cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo được xem xét, giải quyết.
  3. Về tội danh và điều luật áp dụng: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận: Vào khoảng 16 giờ ngày 15/6/2024, tại khu vực sân nhà Lý Văn L thuộc thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang, các bị cáo Ban Văn D, Chương Văn Đ1, Lê Văn P, Chương Văn Ả, Bàn Văn H, Bàn Văn T2, Chương Văn T, Lý Văn L và Lý Văn G1 đã cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức “xóc đĩa” được thua bằng tiền. Chương Văn Đ1 là người chuẩn bị bát, đĩa, que đóm làm quân vị. Ban Văn D là người chuẩn bị 05 lá bài tú lơ khơ làm bảng vị. D, P và Ả chung tiền làm bảng vị để các bị cáo đánh bạc. Đến khoảng 19 giờ 00 phút ngày 15/6/2024, khi tất cả đang đánh bạc thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang và số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 5.747.000 đồng cùng một số tang vật khác; các bị cáo D, P, Đ1, Ả, H, T2, T, L, G1 đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh “xóc đĩa” được thua bằng tiền. Như vậy, Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang xét xử các bị cáo Ban Văn D và Chương Văn T phạm tội: “Đánh bạc” theo Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
  4. Xét kháng cáo của bị cáo Ban Văn D có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo và bị cáo Chương Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử thấy rằng:
  5. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Đây là vụ án có nhiều bị cáo thực hiện tội phạm đánh bạc nên là vụ án đồng phạm nhưng mức độ giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất từ trước, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với mức độ đồng phạm của mình. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương và tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, việc xử lý bằng pháp luật hình sự đối với các bị cáo là cần thiết, có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với tội phạm này.
  6. Về nhân thân của các bị cáo:
    1. Đối với bị cáo Ban Văn D: Ngày 27/9/2005 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt 21 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, đã được xóa án tích. Năm 2014 bị Công an huyện V, tỉnh Hà Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” với mức phạt 1.500.000 đồng theo Quyết định xử phạt hành chính số 193/QĐ-XPHC, ngày 20/8/2014, đã được xóa tiền sự. Năm 2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt 06 tháng 27 ngày tù về tội “Tổ chức đánh bạc” theo bản án số 39/2016/HSST, ngày 02/8/2016, đã được xóa án tích; năm 2019 bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt 33 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo bản án số 625/2019/HSPT ngày 15/10/2019, đã được xóa án tích.
    2. Đối với bị cáo Chương Văn T: Tiền án: 02 tiền án, năm 2021 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” theo bản án số 37/2021/HSST, ngày 25/6/2021; năm 2022, bị Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang xử phạt 12 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo bản án số 11/2022/HSST, tổng hợp với 9 tháng cải tạo không giam giữ tại bản án số 37/2021/HSST ngày 25/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang, T phải chấp hành 13 tháng 01 ngày tù. Đến ngày 23/8/2023, Chương Văn T chấp hành xong hình phạt tù. Chưa được xóa án tích đến ngày 15/6/2024 lại phạm tội mới thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, định khung hình phạt. Quy định tại điểm d khoản 2 Điều 321 BLHS. Về nhân thân: Ngày 25/09/2020, Công an xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức phạt tiền. Đã được xóa tiền sự.
  7. Do đó, khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.
  8. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo T4 không giao nộp thêm tài liệu, chứng cứ chứng minh việc kháng cáo của mình là có căn cứ. Còn vợ bị cáo D có nộp thay cho bị cáo Ban Văn D những tài liệu, chứng cứ sau: 01 bản sao Huân chương kháng chiến mang tên Hoàng Đức H1 là ông bên vợ; 01 bản sao Bằng khen mang tên Hoàng Văn T3 là ông bên vợ; 01 bản sao Giấy khen mang tên Ban Văn D. Nhưng bị cáo D có nhiều lần phạm tội đánh bạc mặc dù đã được xoá án tích nhưng nhân thân xấu, không đủ điều kiện cho hưởng án treo. Nghị quyết 02/2018 HĐTP-TATC hướng dẫn. Do đó HĐXX không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo D, T.
  9. Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo D, T4 giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  10. Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo Ban Văn D và Chương Văn Thinh K1 được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  11. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự ; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ban Văn D được xin được hưởng án treo và bị cáo Chương Văn T xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.

  1. Tuyên bố các bị cáo Ban Văn D và Chương Văn T phạm tội “Đánh bạc".
  2. Hình phạt:
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự; Điều 123 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Ban Văn D 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Được khấu trừ thời hạn bị bắt tạm giữ từ ngày 16/6/2024 đến ngày 24/6/2024.
    • - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự; Điều 123 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo Chương Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Được khấu trừ thời hạn bị bắt tạm giữ từ ngày 16/6/2024 đến ngày 24/6/2024.
  3. Án phí phúc thẩm:
    • Bị cáo Ban Văn D phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
    • Bị cáo Chương Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Vị Xuyên;
  • - TAND huyện Vị Xuyên;
  • - Chi cục THADS huyện Vị Xuyên;
  • - Công an huyện Vị Xuyên;
  • - CQTHA Hình sự CA h.Vị Xuyên;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Các bị cáo kháng cáo;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lâm Anh Luyện

Nguyễn Mạnh Cường

Vũ Mỹ Lệ

Lâm Anh Luyện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-PT ngày 14/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 11/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tôi đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger