TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HSST
Ngày: 13/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên
Ông Tạ Quang Trung
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Loan Anh, là thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoài Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 12 – 13 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 04/2025/TLST - HS, ngày 07 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
Nguyễn Thị Thúy H, sinh ngày 01/01/1982. Giới tính: Nữ (có mặt)
Đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn C (sống) và Phùng Thị Lệ D (chết); Chồng: Nguyễn Văn T, sinh năm 1979; Con ruột có 02 (hai) người: lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2014. Anh, em ruột có 02 (hai) người: lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1982.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Nguyễn Thị Thúy H đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Người bào chữa cho bị cáo H: Luật sư Ngô Hồng T1 - Đoàn Luật sư thành phố C.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Võ Thị Thúy A, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ (có mặt)
Phan Cẩm N, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện P, Thành phố Cần Thơ (vắng mặt)
Trần Thanh N1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, Tỉnh Hậu Giang (vắng mặt)
Huỳnh Thị Cẩm T2, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện T, Thành phố Cần Thơ (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa bị cáo thực hiện hành vi phạm tội như sau:
Nguyễn Thị Thúy H và Võ Thị Thúy A có mối quan hệ quen biết, H có tham gia dây hụi do Thúy A làm chủ. Vào ngày 20/3/2024, Nguyễn Thị Thúy H có đơn tố cáo Võ Thị Thúy A có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, thành phố Cần Thơ. Cùng khoảng thời gian này, những người tham gia dây hụi của A cũng có đơn tố cáo A có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Sau khi tiếp nhận đơn của H và những người tố cáo Võ Thị Thúy A, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành mở rộng điều tra và xác định: Từ ngày 03/02/2024 đến ngày 14/3/2024, Võ Thị Thúy A đã 17 lần vay tiền của Nguyễn Thị Thúy H, hai bên thỏa thuận mức lãi suất từ 21%/tháng đến 30%/tháng, tương đương 252%/năm đến 360%/năm, cao gấp 12,6 lần đến 18 lần mức lãi suất cao nhất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 (sau đây viết tắt là BLDS). Khi có nhu cầu vay, A chủ động liên hệ với H về số tiền cần vay, sau đó H sẽ lấy tiền từ hoạt động kinh doanh của gia đình, tích góp của bản thân và mượn của Phan Cẩm N, Trần Thanh N1 để trực tiếp cho Thúy A vay và lấy lãi theo thỏa thuận của hai bên; A nộp lãi theo ngày, thời hạn vay cho đến khi trả xong nợ gốc và lãi, giữa hai bên không có lập biên nhận, hợp đồng vay, không có thế chấp tài sản, mục đích A vay để có tiền sinh hoạt gia đình, mua bán kinh doanh và trả tiền hụi cho những hụi viên (bút lục số 204 - 205). H sử dụng tài khoản số [...] (nay đã đổi thành 0907540519) mở tại Ngân hàng TMCP C1 (V) hoặc số tại khoản 070907540519 mở tại Ngân hàng TMCP S (S1) để chuyển vào tài khoản số [...] của A mở tại ngân hàng S1. Sau đó, số tiền gốc, tiền lãi của từng lần vay cũng được A sử dụng tài khoản số [...] của A chuyển trả vào 02 tài khoản nêu trên của H. Võ Thị Thúy A đã vay tiền của Nguyễn Thị Thúy H 17 lần, cụ thể:
- Lần 01: Vào ngày 03/02/2024, A vay của Hằng số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất vay 7000 đồng/ngày/1.000.000 đồng, tương đương 21%/tháng, 252%/năm, gấp 12,6 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, mỗi ngày A đóng lãi cho Hằng số tiền 1.400.000 đồng, đã đóng lãi 02 ngày, với tổng số tiền lãi là 2.800.000 đồng. Như vậy, tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS là 219.178 đồng, tiền thu lợi bất chính là 2.580.822 đồng. A chưa trả Hằng tiền gốc 200.000.000 đồng.
- Lần 02: Vào ngày 05/02/2024, A tiếp tục vay của Hằng số tiền 300.000.000 đồng, cộng với số tiền 200.000.000 đồng mà A vay ngày 03/02/2024, tổng số tiền vay là 500.000.000 đồng, lãi suất vay 7000 đồng/ngày/1.000.000 đồng, tương đương 21%/tháng, 252%/năm, gấp 12,6 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, mỗi ngày A đóng lãi cho H 3.500.000 đồng, đã đóng lãi 12 ngày với tổng số tiền 42.000.000 đồng. Như vậy, tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS là 3.287.671 đồng, tiền thu lợi bất chính là 38.712.329 đồng. A đã trả H tiền gốc 500.000.000 đồng.
- Lần 03: Vào ngày 15/02/2024, A vay của Hằng số tiền 250.000.000 đồng, lãi suất vay 10.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng, tương đương 30%/tháng, 360%/năm, gấp 18 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, mỗi ngày A đóng lãi cho H 2.500.000 đồng, đã đóng lãi 06 ngày, với tổng số tiền là 15.000.000 đồng. Như vậy, tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS là 821.917 đồng, tiền thu lợi bất chính là 14.178.083 đồng. A đã trả H tiền gốc 250.000.000 đồng.
- Lần 04: Vào ngày 18/02/2024, A vay của H 500.000.000 đồng, lãi suất vay 7.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng, tương đương 21%/tháng, 252%/năm, gấp 12,6 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, mỗi ngày A đóng lãi cho H 3.500.000 đồng, đã đóng lãi 09 ngày, với tổng số tiền là 31.500.000 đồng. Như vậy, tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS là 2.465.753 đồng, tiền thu lợi bất chính là 29.034.247 đồng. A chưa trả Hằng tiền gốc 500.000.000 đồng.
- Lần 05: Vào ngày 27/02/2024, A vay của Hằng số tiền 100.000.000 đồng, cộng với số tiền gốc 500.000.000 đồng mà A vay của H vào ngày 18/02/2024, tổng số tiền vay là 600.000.000 đồng, lãi suất vay 10.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng, tương đương 30%/tháng, 360%/năm, gấp 18 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, mỗi ngày A đóng lãi cho H 6.000.000 đồng, đã đóng lãi 02 ngày, với tổng số tiền là 12.000.000 đồng. Như vậy, tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS là 657.534 đồng, tiền thu lợi bất chính là 11.342.466 đồng. A đã trả H tiền gốc 600.000.000 đồng.
- Lần 06: Vào ngày 21/02/2024, A vay của Hằng số tiền 500.000.000 đồng, lãi suất vay 10.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng, tương đương 30%/tháng, 360%/năm, gấp 18 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, mỗi ngày A đóng lãi cho H 5.000.000 đồng, đóng lãi 03 ngày, với tổng số tiền là 15.000.000 đồng. Như vậy, tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS là 821.917 đồng, tiền thu lợi bất chính là 14.178.083 đồng. A đã trả H tiền gốc 500.000.000 đồng.
- Lần 07: Vào ngày 24/02/2024, A vay của Hằng số tiền 500.000.000 đồng, lãi suất vay 10.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng, tương đương 30%/tháng, 360%/năm, gấp 18 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, mỗi ngày A đóng lãi cho H 5.000.000 đồng, đóng lãi 07 ngày, với tổng số tiền là 35.000.000 đồng. Như vậy, tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS là 1.917.808 đồng, tiền thu lợi bất chính là 33.082.192 đồng. A đã trả H tiền gốc 500.000.000 đồng.
- Lần 08: Vào ngày 28/02/2024, A vay của Hằng số tiền 600.000.000 đồng, lãi suất vay 7.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng, tương đương 21%/tháng, 252%/năm, gấp 12,6 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, mỗi ngày A đóng lãi cho H 4.200.000 đồng, đã đóng lãi tổng cộng 05 ngày, với tổng số tiền là 21.000.000 đồng. Như vậy, tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS là 1.643.835 đồng, tiền thu lợi bất chính là 19.356.165 đồng. A đã trả H tiền gốc 600.000.000 đồng.
- Lần 09: Vào ngày 01/3/2024, A vay của Hằng số tiền 700.000.000 đồng, lãi suất vay 8.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng, tương đương 24%/tháng, 288%/năm, gấp 14,4 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, mỗi ngày A đóng lãi cho H 5.600.000 đồng, đóng lãi 05 ngày với tổng số tiền là 28.000.000 đồng. Như vậy, tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS là 1.917.808 đồng, tiền thu lợi bất chính là 26.082.192 đồng. A đã trả H tiền gốc 700.000.000 đồng.
- Lần 10: Vào ngày 04/3/2024, A vay của Hằng số tiền 600.000.000 đồng, lãi suất vay 7.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng, tương đương 21%/tháng, 252%/năm, gấp 12,6 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, mỗi ngày A đóng lãi cho H 4.200.000 đồng, đã đóng lãi 03 ngày với tổng số tiền là 12.600.000 đồng. Như vậy, tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS là 986.301 đồng, tiền thu lợi bất chính là 11.613.699 đồng. A đã trả H tiền gốc 600.000.000 đồng.
- Lần 11: Vào ngày 05/3/2024, A vay của Hằng số tiền 700.000.000 đồng, lãi suất vay 8.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng, tương đương 24%/tháng, 288%/năm, gấp 14,4 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, mỗi ngày A đóng lãi cho H 5.600.000 đồng, đóng lãi 03 ngày, với tổng số tiền là 16.800.000 đồng. Như vậy, tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS là 1.150.684 đồng, tiền thu lợi bất chính là 15.649.316 đồng. A đã trả H tiền gốc 700.000.000 đồng.
- Lần 12: Vào ngày 07/3/2024, A vay của Hằng số tiền 700.000.000 đồng, lãi suất vay 8.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng, tương đương 24%/tháng, 288%/năm, gấp 14,4 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, mỗi ngày A đóng lãi cho H 5.600.000 đồng, đóng lãi 07 ngày, với tổng số tiền là 39.200.000 đồng. Như vậy, tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS là 2.684.931 đồng, tiền thu lợi bất chính là 36.515.069 đồng. A đã trả H tiền gốc 700.000.000 đồng.
- Lần 13: Vào ngày 08/3/2024, A vay của Hằng số tiền 700.000.000 đồng, lãi suất vay 10.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng, tương đương 30%/tháng, 360%/năm, gấp 18 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, mỗi ngày A đóng cho H 7.000.000 đồng, đóng lãi 01 ngày, số tiền 7.000.000 đồng. Như vậy, tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS là 383.561 đồng, tiền thu lợi bất chính là 6.616.439 đồng. Trong ngày 08/3/2024, A đã trả H tiền gốc 400.000.000 đồng, còn nợ lại 300.000.000 đồng.
- Đối với số tiền gốc còn nợ 300.000.000 đồng, A tiếp tục trả tiền lãi 03 ngày đến ngày 11/3/2024 với tổng số tiền lãi là 9.000.000 đồng. Như vậy, tiền lãi tương ứng mức cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS là 493.150 đồng, tiền thu lợi bất chính là 8.506.850 đồng. A đã trả H tiền gốc 300.000.000 đồng.
- Lần 14: Vào ngày 11/3/2024, A vay của Hằng số tiền 500.000.000 đồng, lãi suất vay 10.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng, tương đương 30%/tháng, 360%/năm, gấp 18 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, mỗi ngày A đóng lãi cho H 5.000.000 đồng, đã đóng lãi 03 ngày với tổng số tiền là 15.000.000 đồng. Như vậy, tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS là 821.917 đồng, tiền thu lợi bất chính là 14.178.083 đồng. A chưa trả Hằng tiền gốc 500.000.000 đồng.
- Lần 15: Vào ngày 12/3/2024, A vay của Hằng số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất vay 8.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng, tương đương 24%/tháng, 288%/năm, gấp 14,4 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, mỗi ngày A đóng lãi cho H 2.400.000 đồng, đóng lãi tổng cộng 03 ngày với tổng số tiền là 7.200.000 đồng. Như vậy, tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS là 493.150 đồng, tiền thu lợi bất chính là 6.706.850 đồng. A đã trả H tiền gốc 300.000.000 đồng.
- Lần 16: Vào ngày 13/3/2024, A vay của Hằng số tiền 700.000.000 đồng, lãi suất vay 8.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng, tương đương 24%/tháng, 288%/năm, gấp 14,4 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, mỗi ngày A đóng lãi cho H 5.600.000 đồng, đã đóng lãi 06 ngày, với tổng số tiền là 33.600.000 đồng. Như vậy, tiền lãi tương ứng mức cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS là 2.301.369 đồng, tiền thu lợi bất chính là 31.298.631 đồng. A chưa trả Hằng tiền gốc 700.000.000 đồng.
- Lần 17: Vào ngày 14/3/2024, A vay thêm của Hằng số tiền 400.000.000 đồng, lãi suất vay 8.000 đồng/ngày/1.000.000 đồng, tương đương 24%/tháng, 288%/năm, gấp 14,4 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS. Trong lần vay này, A chưa đóng lãi ngày nào cho đến khi bị tố cáo. A chưa trả Hằng tiền gốc 400.000.000 đồng.
Như vậy, trong thời gian từ ngày 03/02/2024 đến ngày 14/3/2024, Nguyễn Thị Thúy H đã cho Võ Thị Thúy A vay 17 lần với tổng tiền gốc là 8.250.000.000 đồng, tổng số tiền lãi đã thu 342.700.000 đồng. Trong đó, tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS là 23.068.484 đồng, tiền thu lợi bất chính là 319.631.516 đồng (lần vay thứ 02, thứ 07, thứ 12, thứ 16 có số tiền thu lợi bất chính vượt trên 30.000.000 đồng). A đã trả tiền gốc cho H là 6.650.000.000 đồng, A còn nợ H tiền gốc 1.600.000.000 đồng.
Đối với tiền thu lợi bất chính A yêu cầu H trả cho A số tiền là 319.631.516 đồng.
Quá trình điều tra H đã nộp 100.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước, khắc phục hậu quả.
Đối với việc Phan Cẩm N (T3) và Trần Thanh N1 cho Nguyễn Thị Thúy H mượn tiền nhưng không biết việc H sử dụng tiền của N và N1 để cho Võ Thị Thúy A vay tiền lãi nặng nên chưa đủ căn cứ xác định vai trò đồng phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục làm rõ đủ cơ sở xử lý sau.
Đối với lời khai của Võ Thị Thúy A cho rằng Huỳnh Thị Cẩm T2 có hành vi cho A vay tiền lãi nặng. Tuy nhiên, qua đối chất chưa đủ căn cứ xử lý, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục làm rõ đủ cơ sở xử lý sau.
Đối với chiếc điện thoại Iphone X mà Nguyễn Thị Thúy H sử dụng để chuyển khoản tiền cho vay và nhận tiền trả gốc, tiền lãi từ Võ Thị Thúy A, do đã bị hư và H đã bán cho người mua điện thoại cũ nên không thu giữ được.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Thúy H đã thừa nhận toàn bộ hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, lời khai của bị can phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người vay) và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra.
Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSPĐ-HS ngày 06/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thúy H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan tiến hành tố tụng đảm bảo quyền lợi cho người tham gia tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì.
[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 201; Điều 35; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS, Nghị quyết số: 01/2021/NQ-HĐTP, ngày 20 tháng 12 năm 2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thúy H hình phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng và xem xét về trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp đối với các đương sự trong vụ án theo quy định pháp luật.
[4] Người bào chữa cho bị cáo H trình bày ý kiến như sau: Thống nhất theo tội danh, hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, tuy nhiên luật sư cho rằng mức hình phạt mà Viện Kiểm sát đề nghị như trên là quá cao nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo đang nuôi con nhỏ, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xử phạt bị cáo H hình phạt tiền 200.000.000 đồng.
[5] Hội đồng xét xử nhận thấy lời khai của bị cáo và của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, chứng minh bị cáo H thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự từ ngày 03/02/2024 đến ngày 14/3/2024. Bị cáo H đã cho A vay tổng cộng 17 lần, hai bên thỏa thuận mức lãi suất từ 21%/tháng đến 30%/tháng, tương đương 252%/năm đến 360%/năm, cao gấp 12,6 lần đến 18 lần được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Tổng tiền gốc mà H đã cho vay là 8.250.000.000 đồng, tổng số tiền lãi đã thu 342.700.000 đồng. Trong đó, tiền lãi theo quy định của là 23.068.484 đồng, tiền thu lợi bất chính là 319.631.516 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo H thực hiện đã cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ đã được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo biết việc cho vay lãi nặng là trái pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì tư lợi cá nhân mà bị cáo H đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, đây là lỗi cố ý trong ý thức phạm tội của bị cáo nên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả, về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên áp dụng các tình tiết này giảm nhẹ cho bị cáo. Do đó đối với hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo. Nên đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.
[6] Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp: Từ những nhận định phân tích nêu trên cần buộc bị cáo H có trách nhiệm nộp số tiền 6.650.000.000 đồng mà bị cáo dùng để cho Võ Thị Thúy A vay, trừ 100.000.000 đồng bị cáo H đã nộp để khắc phục hậu quả nên số tiền bị cáo H phải nộp là 6.550.000.000 đồng và tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định là 23.068.484 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước.
Buộc Võ Thị Thúy A có trách nhiệm nộp số tiền 1.600.000.000 đồng là số tiền vay mà Thúy A chưa trả cho bị cáo H để nộp vào ngân sách nhà nước.
Tại phiên toà bà A xin rút lại yêu cầu buộc bị cáo H trả lại cho A số tiền thu lợi bất chính là 319.631.516 đồng, đây là ý chí nguyện của đương sự, không trái quy định pháp luật nên ghi nhận. Bà A rút yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Không
[8] Đối với việc Phan Cẩm N (T3) và Trần Thanh N1 cho Nguyễn Thị Thúy H mượn tiền nhưng không biết việc H sử dụng tiền của N và N1 để cho Võ Thị Thúy A vay tiền lãi nặng nên chưa đủ căn cứ xác định vai trò đồng phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục làm rõ đủ cơ sở xử lý sau.
Võ Thị Thúy A cho rằng Huỳnh Thị Cẩm T2 có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên, qua đối chất chưa đủ căn cứ xử lý, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục làm rõ đủ cơ sở xử lý sau.
[9] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Thúy H phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
1. Bị cáo Nguyễn Thị Thúy H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm b, điểm s khoản1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thúy H hình phạt tiền là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng).
2. Trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:
Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Buộc bị cáo H có trách nhiệm nộp số tiền 6.550.000.000 đồng (sáu tỷ năm trăm năm mươi triệu đồng) và tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định là 23.068.484 đồng (hai mươi ba triệu không trăm sáu mươi tám ngàn bốn trăm tám mươi bốn đồng) để nộp vào ngân sách nhà nước.
Buộc Võ Thị Thúy A có trách nhiệm nộp số tiền 1.600.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng) là số tiền mà A vay chưa trả cho bị cáo H để nộp vào ngân sách nhà nước.
Bà A xin rút lại yêu cầu buộc bị cáo H trả lại cho A số tiền thu lợi bất chính là 319.631.516 đồng, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3. Về xử lý vật chứng: Không
4. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thị Thúy H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo Nguyễn Thị Thúy H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Thị Thúy A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9. Thời hiệu thi hành án được qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Cúc Lan |
Bản án số 11/2025/HSST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (vụ án hình sự)
- Số bản án: 11/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
