1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST Ngày: 03-3-2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Nhớ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Kiều Công Trường
- Ông Đường Thanh Chánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Bình– Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 377/2024/TLST – HNGĐ ngày 11/12/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 21/01/2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 12/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 14/02/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1995; Địa chỉ: số B khu phố B, Phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn Phước E, sinh năm 1994; Địa chỉ: ấp G, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Chị T có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Anh Phước E vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/9/2024 và các lời trình khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều T trình bày:
Do quen biết chị và anh Phạm Văn Phước E tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre vào ngày 15/7/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống rất hạnh phúc nhưng đến năm 2020 mất hạnh phúc do vợ chồng không hiểu nhau, không tìm được tiếng nói chung và hiện cũng không còn tình cảm vợ chồng với nhau nên ly thân từ tháng 4/2024 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân vợ chồng có hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn với anh Phạm Văn Phước E. Con chung: trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Khánh V, sinh ngày 25/4/2020 hiện đang sống chung với chị, sau khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu anh Phước E cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Về chia tài sản khi ly hôn: chị Nguyễn Thị Kiều T trình bày tài sản chung để vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết, nợ chung không có. Do bận đi làm nên chị T có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Bị đơn anh Phạm Văn P Em vắng mặt vào tất cả các lần Toà án mời nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật từ khi thụ lý đến xét xử; nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình cụ thể còn vắng mặt những lần Tòa án mời; Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 7 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kiều T đối với anh Phạm Văn Phước E. Về con chung: Chị T được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Phạm Khánh V, sinh ngày 25/4/2020 hiện đang sống với chị, anh Phước E có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Về chia tài sản khi ly hôn: chị Nguyễn Thị Kiều T trình bày tài sản chung để vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét, nợ chung không có nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân; Bị đơn Phạm Văn Phước E có địa chỉ cư trú tại xã N, huyện M nên căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý nên căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kiều T đối với anh Phạm Văn Phước E, thấy rằng: Về hôn nhân: Chị T và anh Phước E kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, không vi phạm các điều kiện kết hôn nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị T cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng sống rất hạnh phúc nhưng đến năm 2020 mất hạnh phúc do vợ chồng không hiểu nhau, không tìm được tiếng nói chung và hiện cũng không còn tình cảm vợ chồng với nhau nên đã sống ly thân từ tháng 4/2024 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân vợ chồng có hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn với anh Phạm Văn Phước E. Hội đồng xét xử thấy rằng: hôn nhân của anh chị xuất phát từ nền tảng tình yêu, lẽ ra trong thời gian chung sống có mâu thuẫn xảy ra anh chị phải cùng nhau tìm cách khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của bản thân nhằm xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc. Mặt khác, phía anh Phước E mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để tạo cơ hội cho anh hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T nhưng anh không đến cũng không có văn bản thể hiện ý kiến của anh, những điều này chứng tỏ anh Phước E không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị T. Nay chị T kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn do không còn tình cảm vợ chồng với anh Phước E và điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị là đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kiều T đối với anh Phạm Văn P Em là có căn cứ.
Về con chung: chị Nguyễn Thị Kiều T trình bày trong thời gian chung sống, anh chị có 01 con chung tên Phạm Khánh V, sinh ngày 25/4/2020 hiện đang sống với chị, sau khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu anh P em cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy từ khi anh chị sống ly thân đến nay cháu V sống với chị T nên nghĩ để chị T tiếp tục nuôi cháu V sau khi anh chị ly hôn là phù hợp quy định pháp luật và đã xem xét quyền lợi về mọi mặt của cháu V nhằm không làm xáo trộn cuộc sống cũng như sinh hoạt, học tập của cháu V. Xét về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, nay chị T yêu cầu cầu anh Phước E cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn phù hợp với quy định của khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận. Xét về mức cấp dưỡng: căn cứ vào khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình cụ thể: “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Bên cạnh đó, tại biên bản xác minh ngày 05/02/2025 thể hiện anh Phước E có việc làm ổn đinh, thu nhập mỗi tháng 8.000.000 đồng. Như vậy, việc chị T yêu cầu cấp dưỡng nuôi cháu V mỗi tháng 2.000.000 đồng/tháng là hoàn toàn phù hợp quy định pháp luật, phù hợp khả năng thực tế của anh Phước E nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về chia tài sản khi ly hôn: Chị Nguyễn Thị Kiều T trình bày tài sản chung để vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét, nợ chung chị T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kiều T phải chịu theo quy định pháp luật.
Buộc anh Phạm Văn Phước E phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 hướng dẫn một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- 1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kiều T.
- 2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kiều T được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Phạm Khánh V, sinh ngày 25/4/2020, hiện đang sống chung với chị T, anh Phạm Văn Phước E có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Thời hạn cấp dưỡng từ tháng 03/2025 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Phương thức cấp dưỡng: mỗi tháng cấp dưỡng một lần.
Chị Nguyễn Thị Kiều T được ly hôn với anh Phạm Văn Phước E.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
- 3. Về chia tài sản khi ly hôn: Chị Nguyễn Thị Kiều T trình bày tài sản chung để vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét, nợ chung chị T trình bày không có nên không đề cập.
- 4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
- 5. Về quyền kháng cáo và thi hành án:
Chị Nguyễn Thị Kiều T phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006665 ngày 11/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre nên không còn phải nộp thêm.
Buộc anh Phạm Văn Phước E có nghĩa vụ chịu án phí cấp dưỡng số tiền 300.000 đồng.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử lại theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài Nhớ |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Tiên xin ly hôn với Phước Em
