Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12/3/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tú

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Minh Nguyệt và ông Đào Huy Dương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Thuận - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sơn

Tây, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tham

gia phiên toà: Bà Lã Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Phùng Văn H, sinh năm 1990; Có mặt
  2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1995; Có mặt

Cùng địa chỉ: Thôn V, xã T, thị xã S, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn anh Phùng Văn H trình bày:

    Anh và chị Nguyễn Thị H1 kết hôn năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thị xã S, thành phố Hà Nội trên cơ sở tự nguyên, hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Thôn V, xã T, thị xã S, thành phố Hà Nội cùng gia đình nhà chồng. Vợ chồng chung sống đến năm 2019 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hiểu nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi cọ. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay, cả hai đều không tìm ra được tiếng nói chung. Gia đình cũng đã khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị H1.

    Về con chung: Có 02 con chung là Phùng Đăng D, sinh ngày 13/03/2014 và Phùng Trọng V, sinh năm 02/05/2019. Khi ly hôn anh đề nghị giao cháu V cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, cháu D cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

    Về tài sản chung: Không có.

    Về nợ chung, công sức đóng góp chung: Không có

  2. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Nguyễn Thị H1 trình bày:

    Về thời gian và điều kiện kết hôn như anh H trình bày ở là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống tại thôn V, xã T, thị xã S, thành phố Hà Nội cùng gia đình nhà anh H. Vợ chồng chung sống đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh H có quan hệ tình cảm với người khác, dẫn đến tình cảm vợ chồng mâu thuẫn. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh H không còn quan tâm đến vợ con. Vợ chồng cũng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Gia đình đã hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Nay anh H xin ly hôn, chị không đồng ý.

    Về con chung: Có 02 con chung là Phùng Đăng D, sinh ngày 13/03/2014 và Phùng Trọng V, sinh năm 02/05/2019. Chị H1 đề nghị giao cháu V cho bố trực tiếp nuôi dưỡng, cháu D cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

    Về tài sản chung: Không có.

    Về nợ chung, công sức đóng góp chung: Không có

    - Theo biên bản xác minh tại Thôn V, xã T, thị xã S, Hà Nội cung cấp có nội dung: Vợ chồng anh H, chị H1 có nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, vợ chồng cũng đã ly thân từ năm 2019 đến nay, không còn quan tâm đến nhau.

    - Theo bản tự khai cháu Phùng Đăng D có nguyện vọng ở cùng với chị Nguyễn Thị H1.

    - Tại phiên tòa chị H1 đề nghị Tòa án giao cả hai con cho chị nuôi, đề nghị anh H cấp dưỡng theo qui định của pháp luật. Anh H nhất trí giao hai con chung là cháu D và cháu V cho chị H1 nuôi, anh H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là 2 triệu đồng/1 tháng/1 cháu.

  3. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

    Về tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây thụ lý vụ án đúng quy định của pháp luật. Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng.

    Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

    • Chấp nhận yêu cầu của anh Phùng Văn H. Anh Phùng Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thị H1.
    • Về con chung: Có 02 con chung là Phùng Đăng D, sinh ngày 13/03/2014 và Phùng Trọng V, sinh năm 02/05/2019. Đề nghị chấp nhận sự thỏa thuận của anh H và chị H1. Giao cháu D và cháu V cho chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện của anh H về mức cấp dưỡng nuôi con là 2 triệu đồng/1 tháng/1 cháu.
    • Về tài sản chung: Không có. Về quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của anh Phùng Văn H đối với chị Nguyễn Thị H1 có địa chỉ tại Thôn V, xã T, thị xã S, thành phố Hà Nội là tranh chấp Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội theo quy định tại các Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: anh H kết hôn với chị H1 tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 01 tháng 04 năm 2013 tại UBND xã T, thị xã S, Hà Nội. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh Phùng Văn H và chị Nguyễn Thị H1 là hợp pháp.

Anh H trình bày giữa vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi cọ nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Tại phiên tòa chị H1 thừa nhận giữa vợ chồng có mâu thuẫn nhưng đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ và chị không đồng ý ly hôn. Còn nếu anh H giao hai con cho chị nuôi thì chị mới đồng ý ly hôn.

Theo biên bản xác minh tại địa phương thể hiện: Vợ chồng anh H, chị H1 có nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, vợ chồng cũng đã ly thân từ năm 2019 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Gia đình đã khuyên bảo, hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng anh H và chị H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H.

[2.2] Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Phùng Đăng D, sinh ngày 13/03/2014 và Phùng Trọng V, sinh năm 02/05/2019.

Khi ly hôn, để bảo đảm lợi ích mọi mặt của con theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, tại phiên tòa anh H nhất trí giao cả hao con chung cho chị H1 nuôi, nên cần giao cháu D và cháu V cho chị H1 trực tiếp nuôi dưỡng, anh H phải cấp dưỡng theo luật định.

[2.3] Về tài sản chung: Không có.

[2.4] Về nợ chung, công sức đóng góp chung: Không có.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Căn cứ vào Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phùng Văn H, anh Phùng Văn H được ly hôn với chị Nguyễn Thị H1.
  2. Về con chung: Có 02 con chung là Phùng Đăng D, sinh ngày 13/03/2014 và Phùng Trọng V, sinh năm 02/05/2019.

    Giao cháu Phùng Đăng D và cháu Phùng Trọng V cho chị Nguyễn Thị H1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến lúc các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có thay đổi khác. Anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H1 là 2 triệu đồng/ 1 tháng/1 cháu, kể từ tháng 3 năm 2025 cho đến lúc các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Không có.
  4. Về nợ chung, công sức đóng góp chung: Không có.
  5. Về án phí: Anh Phùng Văn H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0001081 ngày 20/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, Hà Nội, anh H còn phải nộp tiếp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2, luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TX Sơn Tây;
  • - Chi cục THADS TX Sơn Tây;
  • - Các đương sự;
  • - Cơ quan đã thực hiện việc ĐKKH;
  • - Lưu hồ sơ/ VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger