|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:11/2025/HS-ST Ngày: 12-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Trang;
Ông Vũ Xuân Thùy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Vi Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Khổng Thị Tươi - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Mai Văn H. Sinh ngày: 01/01/1963, nơi sinh, nơi cư trú: Xóm B, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn H1 và con bà Vũ Thị M (đều đã chết); bị cáo có vợ là Phạm Thị L, sinh năm 1965; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1985, con nhỏ nhất sinh năm 1991; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 31/8/2024 bị Công an huyện X xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hình thức phạt tiền, chấp hành xong ngày 13/9/2024.
Nhân thân:
Ngày 29/3/2002 bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 29/3/2002.
Ngày 23/10/2013, bị Công an huyện G xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 23/10/2013.
Ngày 23/5/2014, bị Công an huyện X xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 23/5/2014.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2024 đến ngày 04/01/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Tại phiên tòa bị cáo có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Lê Xuân S; vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 16/12/2024, Mai Văn H đi bộ từ nhà ở xóm B, xã X đến khu vực xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Đến nơi, H gặp một người đàn ông lạ mặt, không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Qua dò hỏi, biết người này có ma túy bán, H hỏi mua 450.000 đồng ma túy. Người đàn ông đồng ý nhận tiền và đưa lại cho H 03 đoạn ống nhựa kích thước (2,5 x 0,5)cm màu vàng, sọc đỏ được hàn kín 02 đầu, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng. H nhận, kiểm tra, xác định là Methamphetamine (ma túy đá), cầm cất vào túi quần bên trái rồi đi bộ về nhà tìm nơi sử dụng.
Khoảng 7 giờ 15 phút cùng ngày, H đang đi trên trục đường thuộc khu vực xóm A, xã X, huyện X thì gặp Tổ công tác Công an xã X đang làm nhiệm vụ, thấy H có biểu hiện nghi vấn đã yêu cầu kiểm tra. H đã khai báo toàn bộ hành vi đi mua ma túy về để sử dụng cho bản thân và nộp cho Tổ công tác 03 đoạn ống nhựa vừa mua. Tổ công tác đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong 03 đoạn ống nhựa trong phong bì thư ký hiệu là M.
Cùng ngày, Công an xã X đã bàn giao hồ sơ, tài liệu cùng đối tượng Mai Văn H cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X để giải quyết theo thẩm quyền. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Mai Văn H nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Kết quả xét nghiệm định tính Morphin đối với Mai Văn H ngày 16/12/2024 của Trung tâm y tế huyện X xác định: Mai Văn H âm tính với M1.
Tại bản kết luận giám định số 53/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 03 đoạn ống nhựa màu vàng, sọc đỏ, hàn kín hai đầu, mỗi đoạn kích thước (2,5 x 0,5) cm được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine, khối lượng mẫu M: 0,398 gam.
Tại cơ quan CSĐT Công an huyện X, Mai Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng của bản thân như đã nêu trên.
Cáo trạng số 05/CT-VKSXT, ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo Mai Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Văn H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Mai Văn H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo đang bị mắc bệnh ung thư, đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 53/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N. (M: 0,365 gam Methamphetamine).
Bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì.
Trong lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 16/12/2024, tại xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, Mai Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,398 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện, tiếp tay cho tệ nạn mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý, một hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản..., làm tan vỡ hạnh phúc bao gia đình. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; là người nghiện ma túy nên bị cáo đã thấu hiểu được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe và phòng ngừa.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bố đẻ của bị cáo là người có công với cách mạng và được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến Hạng nhất, bị cáo đang mắc bệnh ung thư dạ dày giai đoạn 3 nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi cũng như theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, bị cáo đang bị bệnh ung thư nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng thu giữ: Số ma túy đã thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
[8] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo H, bị cáo H khai không biết tên, tuổi, địa chỉ ngoài ra không còn nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra Công an huyện X không đủ căn cứ để xử lý là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Mai Văn H đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
Xử phạt bị cáo Mai Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án; (bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2024 đến ngày 04/01/2025).
2. Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 53/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N. (M: 0,365 gam Methamphetamine),
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 22/CCTHADS ngày 13/02/2025 giữa Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).
3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Mai Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, huyện; - Chi cục THADS huyện; - Công an huyện; - UBND xã g; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Phạm Ngọc Long |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma tuý
