|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày 11-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyến
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trịnh Thị Anh
Bà Tạ Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hưng -Thư ký Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh tham gia phiên tòa:
Ông Bùi Đình Lành - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân quận Dương Kinh và điểm cầu thành phần Phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam Công an thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2025/TLST- HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 và Thông báo số 111/TB-TA ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức T
sinh năm 1984, tại Hải Phòng; nơi đăng ký thường trú: Tổ A, phường D, Quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số H T, phường N, Quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T1 (đã chết) và bà Phạm Thị Tường V; có vợ là Phạm Thị Phương T2 và 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự, nhân thân: Có 02 tiền án đã được xóa án tích là Bản án số 65/2016/HSST ngày 28 tháng 12 năm 2016 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và Bản án số 40/2019/HSST ngày 30 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 02 tháng 4 năm 2021; bị tạm giữ ngày 10 tháng 10 năm 2024, đến ngày 15 tháng 10 năm 2024 chuyển tạm giam; có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Đức K, vắng mặt;
- Những người chứng kiến: Ông Bùi Duy H, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 10/10/2024, Nguyễn Đức T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16P9 – 3764, nhãn hiệu YAMAHA, số loại NOUVO, màu sơn: Đen bạc (mượn của bạn là Tùng A chưa rõ nhân thân, lai lịch) đi từ nhà ở của T tại phường N, Quận L, thành phố Hải Phòng đến khu vực Cảng C thuộc quận Đ với mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy đá đựng trong túi nilon màu trắng với giá 300.000 đồng. T giấu ma túy vào túi quần bên trái phía trước của T đang mặc rồi điều khiển xe về nhà. Khoảng 12 giờ 30 phút, trên đường về đến gần ngã tư giao nhau giữa đường P và đường M, thuộc địa phận Tổ A, phường H, quận D thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe kiểm tra, T tự nguyện lấy gói ma túy đang cất giấu trong túi quần giao nộp. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng là 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa nhiều tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá, có kích thước 1,5cm x 02cm và 01 xe mô tô biển kiểm soát 16P9 – 3764.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Đức T tại số H T, phường N, Quận L, thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật liên quan đến vụ án.
Kết luận giám định số 1205/KL-KTHS ngày 14/10/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: “ Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,19 gam, là loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra, Nguyễn Đức T khai nhận hành toàn bộ vi phạm tội như của mình như đã nêu trên.
Về vật chứng: Hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Dương Kinh đang quản lý lượng ma túy còn lại sau giám định 0,09g được niêm phong số 1205MT/PC09. Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại NOUVO, màu sơn: Đen bạc, số máy 5P11-015830, số khung: RLCN5P1108Y015830, đeo biển kiểm soát 16P9 – 3764, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu và biển kiểm soát 16P9 – 3764 là biển đăng ký hợp pháp của xe khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D tiếp tục quản lý để làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.
Tại Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 14/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Đức T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Người làm chứng và người chứng kiến đều vắng mặt tại phiên tòa nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh trình bày lời luận tội: Sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, đối với xe mô tô biển kiểm soát 16P9 - 3764 thu giữ của Nguyễn Đức T do chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Công an đã tách ra để điều tra, xử lý sau là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến bào chữa của bị cáo: Không tranh luận về căn cứ pháp luật được áp dụng, tội danh và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người làm chứng và người chứng kiến tại phiên tòa nhưng họ đều đã có lời khai trong quá trình điều tra, những lời khai này đã được Cơ quan điều tra thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và sự vắng mặt của họ tại phiên tòa không gây trở ngại cho việc xét xử, không làm ảnh hưởng đến nội dung xét xử vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về nội dung:
[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận như sau:
Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 10/10/2024, tại khu vực gần ngã tư giao nhau giữa đường P và đường M theo hướng đi từ Đ về nội thành Hải Phòng, thuộc địa phận tổ A, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Đức T đã có hành vi cất giấu trái phép 0,19 gam chất ma túy (loại Methamphetamine) trong túi quần dài bên trái, phía trước của T đang mặc với mục đích để sử dụng nên cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và như Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 14/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đức T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có mẹ đẻ là bà Phạm Thị Tường V là người có công với nước được tặng thưởng Huân chương nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
[6] Về nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2016/HSST ngày 28/12/2016 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2019/HSST ngày 30/9/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/4/2021 và cũng đã chấp hành xong các nội dung khác trong quyết định của bản án nên theo quy định tại Điều 70 và Điều 73 của Bộ luật Hình sự, xác định bị cáo đã được xóa án tích. Mặc dù vậy đó vẫn là cơ sở để khẳng định bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng được cải tạo, giáo dục một thời gian dài nhưng vẫn chưa rút ra bài học cho bản thân, vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo còn nhiều hạn chế.
[7] Về hình phạt đối với bị cáo: Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước ta. Tệ nạn ma túy đã và đang là hiểm họa lớn, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, làm băng hoại các giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống của dân tộc, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là nguyên nhân, tiền đề làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do vậy căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, xử phạt bị cáo ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và trong mức đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh tại phiên tòa mới đủ tác dụng
giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn nên không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định là "Vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ trái phép". Do vậy cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
[10] Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại NOUVO, màu sơn: Đen bạc, số máy 5P11-015830, số khung: RLCN5P1108Y015830, đeo biển kiểm soát 16P9 - 3764 thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp của xe mô tô trên và biển kiểm soát 16P9 – 3764 là biển đăng ký hợp pháp của xe khác nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận D đã tách ra để quản lý và tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
[11] Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Đức T tại khu vực C, quận Đ, thành phố Hải Phòng vào trưa ngày 10/10/2025, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D đã tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.
[12] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ pháp luật áp dụng, tội danh và mức hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 10 tháng 10 năm 2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,09 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định được chứa trong 01 phong
bì niêm phong số 1205MT/PC09 của Phòng K1 Công an thành phố H (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo Nguyễn Đức T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Duyến |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 2025.03.11. BA11 HS Nguyễn Đức T - Tàng trữ trái phép chất ma túy
