Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN

YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày: 11-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hồng Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Cương.
  2. Bà Nông Thị Liên.

Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Quang Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bộ - Kiểm sát viên.

Ngày 11/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 27/02/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tuấn T- sinh ngày 08/6/2004; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hoá: 12/12; Họ và tên bố: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1979; Họ và tên mẹ: Phạm Thị Hồng M, sinh năm 1984; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 26/11/2024 đến ngày 02/12/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1979 - (có mặt)
  2. Chị Phạm Thị Hồng M, sinh năm 1984 - (có mặt)

Cùng nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1980 - (có mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 22 giờ 30 phút ngày 25/11/2024, tại đoạn đường thuộc bản M, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Tổ công tác Công an huyện Y phối hợp cùng Công an xã T, huyện Y tiến hành tuần tra, kiểm soát phát hiện Nguyễn Tuấn T, sinh ngày 08/6/2004 ở thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi tàng trữ hàng cấm nghi là pháo nổ. Vật chứng thu giữ gồm: 01 vật hình trụ có kích thước (17x9)cm, bịt kín hai đầu, một đầu có gắn dây ngòi pháo (nghi là pháo nổ) để trong cốp xe mô tô Honda Vario, biển kiểm soát 98AL- 048.04 do T đang điều khiển, được niêm phong trong 01 (một) thùng bìa cát tông có ký hiệu “Pháo 1”. Sau đó, tổ công tác đưa T về trụ sở Công an huyện Y để làm việc.

Quá trình làm việc, T xin đầu thú về hành vi tàng trữ hàng cấm (pháo nổ) và tự nguyện giao nộp: 01 xe mô tô biển kiểm soát 98AL-048.04; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nắp phía sau có chữ Redmi, số IMEI 1: 866365060145901/78, số IMEI 2: 866365060145919/78, bên trong không lắp sim; 01 (một) bản phô tô căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Tuấn T. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ, kết quả: Không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi phạm tội. Sau đó, T dẫn đường cho Cơ quan điều tra đến nơi cất giấu pháo ở nhà kho bỏ hoang tại vườn của gia đình T và tự nguyện giao nộp 01 thùng bìa cát tông, bên trong có 35 vật thể hình trụ có kích thước khác nhau, đều có gắn dây ngòi được niêm phong trong 01 (một) thùng bìa cát tông có ký hiệu “Pháo nổ”. T khai nhận toàn bộ vật thể hình trụ trên đều là pháo nổ T mua về để đốt trong dịp Tết Nguyên Đán 2025.

Ngày 26/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T nhưng không thu giữ được đồ vật, tài sản gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại bản Kết luận giám định số 2532/KL-KTHS ngày 29/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • Trong 01 (một) hộp bìa cát tông ký hiệu “Pháo 1”, được niêm phong gửi giám định: 01 (một) vật hình trụ, vỏ giấy, kích thước (17 x 9)cm, bịt kín hai đầu, một đầu gắn dây ngòi pháo là Pháo nổ, khối lượng 1,0 kg (một ki lô gam).
  • Trong 01 (một) thùng bìa cát tông ký hiệu “Pháo nổ”, được niêm phong gửi giám định: 35 (ba mươi lăm) vật hình trụ, vỏ giấy, bịt kín hai đầu, một đầu gắn dây ngòi pháo (trong đó gồm: 01 (một) vật kích thước (28x7,5)cm; 02 (hai) vật kích thước (25,5x8)cm; 01 (một) vật kích thước (25,5x6,5)cm; 01 (một) vật kích thước (17x7,5)cm; 01 (một) vật kích thước (16x6,8)cm; 02 (hai) vật kích thước (17x6,5)cm; 04 (bốn) vật kích thước (10x5,5)cm; 07 (bảy) vật kích thước (9,5x4)cm; 05 (năm) vật kích thước (10x4)cm; 06 (sáu) vật kích thước (9x4)cm;

2

01 (một) vật kích thước (10x5,5)cm; 01 (một) vật kích thước (9x5,5)cm; 01 (một) vật kích thước (12x4)cm; 01 (một) vật kích thước (9,5x3,5)cm; 01 (một) vật kích thước (9x5)cm) đều là Pháo nổ, tổng khối lượng 8,8 kg (tám phẩy tám ki lô gam)".

Quá trình điều tra, T khai nhận: Khoảng đầu tháng 10/2024, do có nhu cầu cần pháo để đốt vào dịp Tết Nguyên Đán 2025 nên T nảy sinh ý định mua pháo nổ về sử dụng. T sử dụng điện thoại di động kiểu dáng Iphone (lắp sim rác) truy cập vào mạng xã hội (không nhớ tên, địa chỉ trang mạng) đặt mua của 01 người lạ (không biết tên tuổi, địa chỉ) 1.000.000 đồng tiền pháo nổ tự chế. Khoảng 03 ngày sau, có 01 người giao hàng là nam giới (không biết tên tuổi địa chỉ) giao đến cho T 01 thùng hàng bên trong có 36 quả pháo dạng hình trụ, được quấn chặt bằng giấy, kích thước khác nhau, đều được gắn dây ngòi một đầu, ước lượng khối lượng khoảng hơn 10kg. T thanh toán cho người giao hàng 1.000.000 đồng tiền mặt rồi mang số pháo nổ mua được cất giấu ở nhà kho bỏ hoang tại vườn của gia đình T. Vài ngày sau T bỏ 01 quả pháo trong số pháo mà T mua được ra kiểm tra và cất giấu trong cốp xe mô tô biển kiểm soát 98AL- 048.04 để khi nào rảnh sẽ đốt thử. Đến tối ngày 25/11/2024, T điều khiển xe mô tô này đến địa phận xã T, huyện Y chơi thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ vật chứng có liên quan.

Cáo trạng số 10/CT-VKS-YT ngày 11/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn T về tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn T từ 08 tháng đến 10 tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm" nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện Y giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3

Ngoài ra kiểm sát viên còn đề xuất xử lý vật chứng và án phí.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh:

Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều thừa nhận: Hồi 22 giờ 30 phút ngày 25/11/2024, tại đoạn đường thuộc bản M, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Tổ công tác Công an huyện Y phối hợp cùng Công an xã T, huyện Y tiến hành tuần tra, kiểm soát phát hiện Nguyễn Tuấn T, sinh ngày 08/6/2004 ở thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi tàng trữ 01kg pháo nổ thì bị tổ công tác phát hiện, thu giữ. Ngoài ra, Nguyễn Tuấn T còn tàng trữ 8,8kg pháo nổ ở nhà kho bỏ hoang tại vườn của gia đình. Tổng số pháo nổ Nguyễn Tuấn T tàng trữ nhằm mục đích để đốt trong dịp Tết Nguyên Đán 2025 là 9,8kg.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm. Bị cáo có hành vi tàng trữ hàng cấm là 9,8 kg pháo nổ, do đó cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 10/CT-VKS-YT, ngày 11/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi:

Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ pháo nổ là vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của

4

Nhà nước về quản lý các hàng hóa cấm lưu hành, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra các vụ hỏa hoạn cháy nổ. Gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và tài sản của bản thân và người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, là người khuyết tật nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.

[4]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Tuấn T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú, là người khuyết tật nhìn mức độ nhẹ, có ông nội Nguyễn Văn Ê được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6]. Từ các tình tiết trên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đầu thú, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định nên đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[7]. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nắp phía sau có chữ Redmi, số IMEI 1: 866365060145901/78, số IMEI 2: 866365060145919/78 là tài sản của T không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho T.

Đối với 7,6 kg pháo nổ đựng trong 01 (một) thùng bìa cát tông dán kín, niêm phong bằng hình dấu của Phòng K Công an tỉnh B, có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu, ký hiệu là “Pháo nổ” và 01 (một) vỏ hộp bìa cát tông dán kín, niêm phong, có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu của Phòng KTHS Công an tỉnh B, ký hiệu là “Pháo 1”, bên trong không có đồ vật, tài sản gì còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu đen đỏ, biển kiểm soát 98AL- 048.04, số khung MH1KF412XMK265057, số máy KF41E2269068, xe cũ đã qua sử dụng, bên trong cốp xe không có tài sản gì và 01 đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 98002306, tên chủ xe Nguyễn Tuấn T, địa chỉ: T, Đ, Y, Bắc Giang, biển số đăng ký 98AL-048.04 là phương tiện T sử dụng để phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

5

[8]. Đối với chiếc điện thoại di động và sim điện thoại T sử dụng để đặt mua số pháo nổ trên mạng do T làm rơi, không biết rơi ở vị trí nào nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ để truy tìm.

Đối với người bán pháo cho T, T không nhớ đặt ở trang mạng nào, không nhớ số điện thoại liên lạc và người vận chuyển pháo đến giao, T không biết tên tuổi, địa chỉ của những người này nên không có căn cứ để xác minh, truy tìm.

T khai nhận thực hiện hành vi tàng trữ pháo nổ một mình, trước và trong khi thực hiện hành vi phạm tội không trao đổi, bàn bạc với ai, tiền mua pháo do T lao động, tích cóp có được. Trong gia đình không ai biết việc T tàng trữ pháo nổ nên không có căn cứ xem xét xử lý đối với ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1979 (là bố đẻ bị cáo), bà Phạm Thị Hồng M, sinh năm 1984 (là mẹ đẻ bị cáo) và cháu Nguyễn Công Đ1, sinh năm 2014 (là em bị cáo) đều ở thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

[9]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn T thuộc đối tượng người khuyết tật nên được miễn án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Về hình phạt và tội danh: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn T 08 (tám) tháng tù về tội "Tàng trữ hàng cấm" nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 11/3/2025.

Giao bị cáo Nguyễn Tuấn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Tuấn T.

2. Về xử lý vật chứng:

6

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy: 7,6 kg pháo nổ đựng trong 01 (một) thùng bìa cát tông dán kín, niêm phong bằng hình dấu của Phòng K Công an tỉnh B, có chữ ký của giám định viên và đại diện cơ quan trưng cầu, ký hiệu là “Pháo nổ” và 01 (một) vỏ hộp bìa cát tông dán kín, niêm phong, có chữ ký của các thành phần tham gia và dấu của Phòng KTHS Công an tỉnh B, ký hiệu là “Pháo 1”, bên trong không có đồ vật, tài sản gì còn lại sau giám định.
  • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario màu đen đỏ, biển kiểm soát 98AL-048.04, số khung MH1KF412XMK265057, số máy KF41E2269068, xe cũ đã qua sử dụng, bên trong cốp xe không có tài sản gì và 01 đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 98002306, tên chủ xe Nguyễn Tuấn T, địa chỉ: T, Đ, Y, Bắc Giang, biển số đăng ký 98AL-048.04.
  • Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nắp phía sau có chữ Redmi, số IMEI 1: 866365060145901/78, số IMEI 2: 866365060145919/78.

3. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Tuấn T.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • VKSND huyện Yên Thế;
  • VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • TAND tỉnh Bắc Giang;
  • CQCSĐT Công an tỉnh Bắc Giang;
  • Phòng CSTHAHS và HTTP Công an tỉnh Bắc Giang;
  • UBND xã Đồng Tâm, huyện Yên Thế;
  • Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Lê Hồng Thảo

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về tàng trữ hàng cấm

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 22 giờ 30 phút ngày 25/11/2024, tại đoạn đường thuộc bản M, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Tổ công tác Công an huyện Y phối hợp cùng Công an xã T, huyện Y tiến hành tuần tra, kiểm soát phát hiện Nguyễn Tuấn T, sinh ngày 08/6/2004 ở thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đang có hành vi tàng trữ 01kg pháo nổ thì bị tổ công tác phát hiện, thu giữ. Ngoài ra, Nguyễn Tuấn T còn tàng trữ 8,8kg pháo nổ ở nhà kho bỏ hoang tại vườn của gia đình. Tổng số pháo nổ Nguyễn Tuấn T tàng trữ nhằm mục đích để đốt trong dịp Tết Nguyên Đán 2025 là 9,8kg.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger