TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST Ngày 07-3-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Ngọc Sinh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Anh Tuấn
Bà Hoàng Thị Chính.
Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lương Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 82/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QÐST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ M, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Thế H1, sinh năm 1981; nơi thường trú: Tổ M, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số D đường H, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
oà, V, Hải Phòng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 10 năm 2024 và các bản tự khai của nguyên đơn Chị Lê Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H1 xây dựng hạnh phúc với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng vào ngày 12-4-2006. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về chung sống tại: Số D đường H, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống hai bên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc; hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên giải nhưng không có kết quả; dẫn đến sống ly thân, không còn quan tâm với nhau từ nhiều tháng nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho Chị H được ly hôn với Anh H1.
Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung là Nguyễn Thanh N, sinh ngày 27-11-2006 và Nguyễn Thế Quốc T, sinh ngày 29-12-2009; khi ly hôn chị H nhận nuôi con Nguyễn Thế Quốc T; còn con Nguyễn Thanh N đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình Toà án giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Kiến An đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng bị đơn Anh Nguyễn Thế H1 không hợp tác, không đến Toà án; không trình bày lời khai, không có văn bản trình bày về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo về phiên họp, hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định về thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục tố tụng; phiên toà được mở đúng thời hạn; Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo quy quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị: Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); các điều 19, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị Lê Thị H được ly hôn Anh Nguyễn Thế H1. Về con chung: Giao chị H nuôi con Nguyễn Thế Quốc T; còn con Nguyễn Thanh N đã trưởng thành không yêu cầu Toà án giải quyết. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản: Chị Lê Thị H và Anh Nguyễn Thế H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện về Ly hôn, tranh chấp nuôi con đối với bị đơn cư trú tại quận K, thành phố Hải Phòng. Tòa án nhân dân quận Kiến An thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, phù hợp quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về người tham gia tố tụng: Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiếp tục phiên tòa xét xử, phù hợp quy định theo điểm a và b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của BLTTDS.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn, bị đơn kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không tin tưởng nhau về mặt tình cảm. Theo xác minh tại gia đình và địa phương, thì Chị Lê Thị H và Anh Nguyễn Thế H1 không có trách nhiệm thực hiện đúng, đầy đủ tình nghĩa vợ chồng tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình quy định "...vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc của gia đình", "...Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung". Xét, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn, bị đơn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc nguyên đơn có đơn xin ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về ly hôn.
[4] Về con chung: Chị Lê Thị H và Anh Nguyễn Thế H1 có 02 con chung là Nguyễn Thanh N, sinh ngày 27-11-2006 và Nguyễn Thế Quốc T, sinh ngày 29-12-2009. Cần giao con Nguyễn Thế Quốc T, sinh ngày 29-12-2009 cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, phù hợp nguyện vọng của con. Không yêu cầu toà án giải quyết đối với con Nguyễn Thanh N thành niên. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Hai bên tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a và b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 235 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 19, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thế H1.
- - Về con chung: Giao con Nguyễn Thế Quốc T, sinh ngày 29 tháng 12 năm 2009 cho chị Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Thế H1 tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- - Về tài sản: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Thế H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004916 ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, nên nguyên đơn đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Sinh |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 07/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
