Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ AN NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày 06 - 3 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Phượng

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Minh Chiến

  • Ông Võ Văn Tỵ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Hồng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Thoại - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 262/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T, sinh ngày 03/9/1994 tại C, P, Bình Định; Nơi cư trú: số H, đường Đ, khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định; Số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Cơ khí; trình độ học vấn: 7/12 ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần D, sinh năm 1970 và bà Mai Thị Thu V, sinh năm 1975; có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1996; Con có 02 người, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 14/12/2024 và chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Chị Tô Thị Mỹ L, sinh năm 1992; Địa chỉ: khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Võ Phạm Thế C, sinh năm 1972; Địa chỉ: số A Đường C, thị trấn N, huyện P, tỉnh Bình Định, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Trần Văn N, sinh năm 1987; Địa chỉ: số B, đường Đ, khu vực V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.

  2. Anh Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1983; Địa chỉ: khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.

  3. Anh Mai Đào Thái S, sinh năm 1989; Địa chỉ: số B, đường Đ, khu vực V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 40 phút ngày 11/12/2024, bị cáo Trần Văn T mặc áo mưa màu xanh sẫm đi bộ ra khỏi nhà để tránh chủ nợ đòi tiền. Khi đi qua nhà chị Tô Thị Mỹ L, bị cáo Trần Văn T thấy trong sân nhà có dựng chiếc xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen - bạc, biển kiểm soát 77E1-121.42, trên xe có gắn chìa khóa, nhưng không có người quản lý nên đã nảy sinh ý định trộm xe mô tô. Bị cáo Trần Văn T lén lút đi vào trong sân dắt xe mô tô, khởi động rồi điều khiển xe chạy về nhà thay trang phục. Sau đó, bị cáo T điều khiển xe mô tô vừa trộm được đi đến thị trấn N, huyện P cầm cố tại Cửa hàng cầm đồ của anh Võ Phạm Thế C lấy số tiền 4.000.000 đồng, trả nợ và tiêu xài hết.

Ngày 18/12/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A có bản kết luận định giá tài sản số: 41/KL-HĐĐGTS, kết luận: Xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu đen - bạc, biển kiểm soát 77E1-121.42 tại thời điểm tài sản bị xâm phạm trị giá 4.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSAN ngày 10 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 06(sáu) đến 09(chín) tháng tù;

  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì khác, nên miễn xét. Buộc bị cáo Trần Văn Thoàn trả số tiền 4.000.000 đồng cho anh Võ Phạm Thế C.

  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tuyên:

    • + Tịch thu, tiêu hủy 01 áo mưa màu xanh;

    • + Lưu hồ sơ: 01 tờ giấy Hợp đồng cầm đồ của Cửa hàng cầm đồ Võ Phạm Thế C, nội dung ghi nhận thế chấp xe mô tô 77E1-121.42 của Trần Văn T vào ngày 11/12/2024; 01 USB dung lượng 4GB chứa đoạn video ghi lại một phần diễn biến vụ việc.

Bị cáo Trần Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội bản cáo trạng đã truy tố, ăn năn, hối cải về hành vi của mình. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo Trần Văn T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Tại phiên tòa, bị hại chị Tô Thị Mỹ L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Phạm Thế C và những người làm chứng: anh Trần Văn N, anh Nguyễn Thanh H1, anh Mai Đào Thái S vắng mặt. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra họ đã cung cấp lời khai và yêu cầu. Chị L đã nhận lại tài sản và có đơn bãi nại trách nhiệm dân sự. Xét, sự vắng mặt của họ không làm trở ngại cho việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: khoảng 06 giờ 40 phút ngày 11/12/2024, bị cáo Trần Văn T đã lén lút chiếm đoạt xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, biển kiểm soát 77E1-121.42 của chị Tô Thị Mỹ L đang dựng trước sân nhà tại khu vực V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định rồi đem cầm cố cho anh Võ Phạm Thế C lấy số tiền 4.000.000đồng. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có trị giá 4.000.000 đồng nên hành vi của bị cáo Trần Văn T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng và lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo Trần Văn T là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Là công dân có đầy đủ sức khỏe và năng lực điều khiển hành vi, ý thức được tài sản hợp pháp của người khác luôn được Nhà nước quan tâm bảo vệ và nghiêm trị những ai có hành vi xâm hại trái pháp luật. Nhưng vì muốn nhanh chóng có tiền để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu cá nhân, bị cáo Trần Văn T lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của người bị hại rồi lén lút chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, nên cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống bình thường của xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo hành vi phạm tội quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Xét bị cáo có nhân thân tốt, không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

  • [7.1] Bị hại chị Tô Thị Mỹ L đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì khác nên miễn xét.

  • [7.2] Anh Võ Phạm Thế C yêu cầu bị cáo Trần Văn Thoàn trả số tiền 4.000.000đ đã nhận cầm cố xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, biển kiểm soát 77E1-121.42. Xét, khi nhận cầm cố xe mô tô biển kiểm soát 77E1-121.42, anh Võ Phạm Thế C không biết đó là tài sản do bị cáo Trần Văn T trộm cắp mà có. Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với anh Võ Phạm Thế C là có căn cứ, đúng pháp luật. Do đó, cần buộc bị cáo Trần Văn T phải hoàn trả anh Võ Phạm Thế C số tiền 4.000.000đ.

[8] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + 01 áo mưa màu xanh là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

  • + Lưu hồ sơ: 01 tờ giấy Hợp đồng cầm đồ của Cửa hàng cầm đồ Võ Phạm Thế C, nội dung ghi nhận thế chấp xe mô tô 77E1-121.42 của Trần Văn T vào ngày 11/12/2024; 01 USB dung lượng 4GB chứa đoạn video ghi lại một phần diễn biến vụ việc.

[9] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự và các Điều 106, 135, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/12/2024.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Văn T hoàn trả số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng cho anh Võ Phạm Thế C.

  4. Về xử lý vật chứng:

    • 4.1. Tịch thu, tiêu hủy 01 áo mưa màu xanh. (Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã An Nhơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/3/2025)

    • 4.2. Lưu hồ sơ vụ án: 01 tờ giấy Hợp đồng cầm đồ của Cửa hàng cầm đồ Võ Phạm Thế C, nội dung ghi nhận thế chấp xe mô tô 77E1-121.42 của Trần Văn T vào ngày 11/12/2024; 01 USB dung lượng 4GB chứa đoạn video ghi lại một phần diễn biến vụ việc.

  5. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

  6. Quyền kháng cáo: bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

  7. Quyền, nghĩa vụ thi hành án:

    • 7.1/ Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    • 7.2/ Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - Công an tỉnh Bình Đinh;
  • - VKSND TX. An Nhơn;
  • - Chi cục THADS thị xã An Nhơn;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ái Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger