|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG |
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HS-ST.
Ngày: 06 - 3 - 2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Châu.
Ông Lý Thanh Chiều.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Chiến – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-DS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Triệu L (tên gọi khác: Quậy); sinh ngày 01/01/1995; nơi sinh: Tại huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu P, sinh năm 1945 (chết) và bà Thạch Thị B, sinh năm 1965 (chết); tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng vào ngày 28/10/2019 (Quyết định số 06/QĐ – TA ngày 28/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/11/2024 cho đến nay (có mặt).
- Bị hại: Bà Thị S, sinh năm 1956; nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).
- Người làm chứng: Bà Phạm Thị B1, sinh năm 1959; nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ, ngày 16/4/2024, bị cáo trông thấy nhà của bà Thị S không có ai trông coi nhà nên lén lút lấy trộm chiếc Tivi nhãn hiệu Panasonic, 42inch trong nhà của bà Thị S. Sau khi lấy Tivi xong bị cáo cầm chiếc Tivi đi đến khu vực ấp B, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng thì gặp bà C (bị cáo không biết họ tên cụ thể chỉ biết bà là vợ của ông Chín L1) và con của bà tên G đang ở nhà, ban đầu bị cáo định gửi chiếc Tivi ở nhà của bà C nhưng bà không cho gửi nên bị cáo hỏi bà có mua Tivi không để bán lại, bà C không đồng ý mua, nên bị cáo tiếp tục đi bộ ra đến bến xe T (thuộc khu vực thành phố S) để đón xe khách đi tỉnh Long An, khi xe đi đến bến xe thuộc khu vực thành phố Cần Thơ thì dừng tại đó khoảng 15 phút, lúc này bị cáo đi xuống xe thì gặp một người phụ nữ lạ mặt (không có quen biết từ trước), tầm khoảng 50 tuổi nên bị cáo hỏi bà có mua chiếc Tivi không, bà hỏi bị cáo T còn xài được không, thì bị cáo trả lời là còn xài được, sau đó bà đồng ý mua Tivi với giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), thì bị cáo đồng ý bán lại và lên xe tiếp tục đi tỉnh Long An.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 33/KL-HĐDGTS, ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản thuộc UBND huyện M kết luận: Tivi nhãn hiệu Panasonic, màn hình siêu mỏng, 42 inch, mua vào năm 2023 với giá 7.000.000 đồng; Giả khảo sát: 6.730.000 đồng; Giá trị còn lại: 70%; Thành tiền: 4.711.000 đồng. Tổng giá trị tài sản được định giá là: 4.711.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm mười một nghìn đồng).
Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKS-MT ngày 10/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Triệu L (tên gọi khác: Q) về Tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo theo điều luật như trên và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm Tội trộm cắp tài sản và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
Đối với T nhãn hiệu Panasonic, 42inch sau khi lấy trộm bị cáo đã bán chiếc tivi này cho một người phụ nữ lạ mặt (không có quen biết từ trước) do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không thu hồi được nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện M, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị hại vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt; người làm chứng vắng mặt không rõ lý do và xét thấy sự vắng mặt của của những người nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát; bị cáo có mặt tại phiên tòa không yêu cầu hoãn phiên tòa. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất Cáo trạng truy tố, bị cáo đã khai rõ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan Điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Hiện trường vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, bản kết luận số 33/KL-HĐĐGTS, ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản thuộc UBND huyện M, vật chứng của vụ án và phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định như sau: Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm Tivi nhãn hiệu Panasonic, 42inch của bà Thị S. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt qua định giá là 4.711.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm mười một nghìn đồng). Do đó, hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị là 4.711.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm mười một nghìn đồng) mà bị cáo đã đã thực hiện phạm vào Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Do đó, cáo trạng số 04/CT-VKS-MT ngày 10/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Cho nên, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc để bị cáo có thời gian tâm đắc sửa chữa lỗi lầm, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, góp phần phòng chống tội phạm chung.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo có nhân thân xấu cụ thể bị cáo có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng vào ngày 28/10/2019 (Quyết định số 06/QĐ – TA ngày 28/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng). Tuy nhiên, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người dân tộc K không biết chữ sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nên khả năng nhận thức về pháp luật còn hạn chế, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với Tivi nhãn hiệu Panasonic, 42inch sau khi lấy trộm bị cáo đã bán chiếc tivi này cho một người phụ nữ lạ mặt (không có quen biết từ trước) do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không thu hồi được chiếc tivi nêu trên nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và được miễn án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, về hình phạt, việc áp dụng pháp luật, xử lý vật chứng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Đối với cho một người phụ nữ lạ mặt (không có quen biết từ trước) đã mua Tivi nhãn hiệu Panasonic, 42inch từ bị cáo. Trong quá trình điều tra cơ quan điều tra công an huyện M chưa xác định được họ tên, địa chỉ và sẽ xem xét xử lý sau khi có căn cứ là có căn cứ.
[12] Trong quá trình điều tra bị cáo có khai nhận ngày 11/5/2024 bị cáo có hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại ấp A, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Đối với hành vi trên C1 huyện Đ, tỉnh Long An đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can để điều tra xử lý theo quy định là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Triệu L (Tên gọi khác: Q) phạm Tội trộm cắp tài sản.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Triệu L (Tên gọi khác: Q) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi thi hành án hoặc từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Triệu L (Tên gọi khác: Q) phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo được miễn 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm do bị cáo là người dân tộc Khmer, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ vào Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Thanh Hoa |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm
