Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HS-PT

Ngày 05/3/2025

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Anh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang
Ông Nguyễn Quang Vũ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 105/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Thị Lệ T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 40/2024/HS-ST ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

* Bị cáo bị kháng cáo:

Phạm Thị Lệ T, (Tên gọi khác: không); Sinh ngày 01/9/1981; Nơi ĐKHKTT: Tổ D, khu L, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở hiện tại: số nhà E, tòa nhà C, khu chung cư T, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn L (đã chết) và bà: Lương Thị T1, sinh năm 1948; Chồng: Nguyễn Văn L1, sinh năm 1982 (đã ly hôn); Con: Có 02 con (lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh ngày 26/10/2023); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (có mặt).

Người bào chữa cho Bị cáo:

  • + Bà Lỗ Thị Thu H - Luật sư Công ty L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh P.
  • Địa chỉ: Số nhà A, đại lộ H, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt);

Bị hại: Chị Cao Thị M, sinh năm 1979, chị Đỗ Thị Hồng T2, sinh năm 1990, anh Cao Văn N, sinh năm 1987, chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1975.

Cùng địa chỉ: Xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (Đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Thị Lệ T, sinh năm 1981, có hộ khẩu thường trú ở khu L, phường M, thành phố V, nơi ở khu chung cư T, xã T, thành phố V và chị Cao Thị M, sinh năm 1979, ở khu T, xã H, huyện Đ là bạn bè, quen biết nhau qua việc kinh doanh buôn bán hàng tạp hóa từ năm 2016. Khoảng tháng 7/2023, chị M nhờ T hỏi các thủ tục để chị M đi xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc. Thời điểm này, công việc kinh doanh của T đang gặp khó khăn, mặc dù không làm cho Công ty, Trung tâm xuất khẩu lao động nào, không có chức năng, khả năng đưa người đi xuất khẩu lao động nhưng do cần tiền đầu tư kinh doanh và tiền sinh hoạt chi tiêu nên T đã nảy sinh ý định nhận tiền của chị M để chiếm đoạt. Để tạo lòng tin của chị M, tránh để bị chị M nghi ngờ, T đã lấy ảnh của một gia đình 03 người trên mạng Internet gửi qua Zalo cho chị M, nói dối chị M người phụ nữ trong ảnh là cháu gái T đang là Giám đốc Trung tâm đưa người đi xuất khẩu lao động, T có thể làm thủ tục xuất khẩu lao động cho chị M một cách nhanh chóng và thuận lợi; đồng thời T yêu cầu chị M cung cấp thông tin lý lịch cá nhân và chụp ảnh căn cước công dân để T làm thủ tục. Do trước đây T đã từng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, biết các khoản chi phí phải đóng góp, đồng thời dựa vào điều kiện kinh tế của chị M, T tự đưa ra các khoản chi phí và yêu cầu chị M phải đóng để được đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc trong thời gian 01 năm, gồm có: tiền phí đi xuất khẩu lao động là 85.000.000đ (T3 mươi lăm triệu đồng), tiền phí bay nhanh là 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng), tiền chống trốn là 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng). Tổng chi phí T yêu cầu chị M phải đóng là 126.500.000đ (Một trăm hai mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng). T hẹn khoảng tháng 10/2023, chị M sẽ được đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, công việc là làm nông nghiệp, mức lương khoảng 45.000.000đ/tháng. Tuy nhiên, do T và chị M quen biết nhau từ trước, chị M nói không có đủ số tiền theo yêu cầu nên T đã bớt cho chị M 7.000.000đ. Tin tưởng T nên chị M đã đồng ý và sử dụng tài khoản Ngân hàng M1 số 9704229283611296 tại huyện Đ của mình chuyển vào tài khoản Ngân hàng M1 số 8382686899999 của T tổng số tiền 119.500.000đ (Một trăm mười chín triệu năm trăm nghìn đồng), cụ thể: ngày 15/8/2023, chị M chuyển khoản 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng); ngày 16/8/2023, chị M chuyển khoản 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng); ngày 23/8/2023, chị M chuyển khoản 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng); ngày 26/8/2023, chị M chuyển khoản 27.000.000₫ (Hai mươi bẩy triệu đồng) và ngày 09/9/2023, chị M tiếp tục chuyển 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng) là tiền phí chị M đi xuất khẩu lao động. Sau khi nhận được tiền của chị M, khoảng giữa tháng 9/2023, T đã làm hộ chiếu cho chị M, mục đích để chị M tin T đang làm thủ tục đi xuất khẩu lao động. Sau đó, T đã sử dụng toàn bộ số tiền của chị M vào việc chi tiêu cá nhân và đầu tư kinh doanh buôn bán.

Quá trình chị M nhờ T làm thủ tục đi xuất khẩu lao động có nói cho chị Đỗ Thị Hồng T2, sinh năm 1990 (em dâu chị M), anh Cao Văn N, sinh năm 1987 (em trai ruột chị M, chồng của chị T2) và chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1975 (hàng xóm của chị M) đều ở xã H, huyện Đ biết. Do cũng có nhu cầu đi xuất khẩu lao động nên chị T2, anh N và chị Y nhờ chị M liên hệ với T để làm thủ tục đi xuất khẩu lao động. Thời điểm này, T kinh doanh buôn bán thua lỗ, đang cần tiền đầu tư nên đồng ý và đưa ra các khoản chi phí như đối với chị M nhằm chiếm đoạt tài sản của những người này. Sau đó, chị T2, chị Y đã liên hệ với T, chuyển tiền để T làm thủ tục đi xuất khẩu lao động cho chị T2, anh N và chị Y tại Hàn Quốc, thời hạn lao động là 01 năm, công việc làm nông nghiệp với mức lương khoảng 45.000.000đ/ tháng giống như chị M. Cụ thể: Chị Đỗ Thị Hồng T2 đã đưa cho T tổng số 280.000.000₫ (Hai trăm tám mươi triệu đồng) để T làm thủ tục đi xuất khẩu lao động Hàn Quốc cho chị T2 và anh N. Trong đó, ngày 31/8/2023, chị T2 chuyển tiền từ tài khoản Ngân hàng A số 2710205325953 của mình đến tài khoản Ngân hàng TMCP Q (MB) số 8382686899999 của T 02 lần, lần thứ nhất 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), lần thứ hai 140.000.000đ (Một trăm bốn mươi triệu đồng) là tiền phí đi xuất khẩu lao động của vợ chồng chị T2. Ngày 05/9/2023, T gọi điện cho chị T2 nói nếu muốn tăng thời hạn đi xuất khẩu lao động từ 01 năm lên 02 năm thì đóng thêm 50.000.000đ cho 02 người. Chị T2 đồng ý và chuyển 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) cho T. Ngày 09/9/2023, chị T2 nhờ chị M chuyển tiền từ tài khoản Ngân hàng TMCP B số [...] của chị M đến tài khoản Ngân hàng TMCP Q (MB) số 8382686899999 của T số tiền 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng) là tiền chống trốn của vợ chồng chị T2.

Chị Nguyễn Thị Y đã đưa cho T tổng số 86.000.000đ (T3 mươi sáu triệu đồng). Trong đó, ngày 16/8/2023, chị Y chuyển tiền từ Ngân hàng A đến tài khoản Ngân hàng TMCP Q (MB) số 8382686899999 của T số tiền 51.000.000đ (Năm mươi mốt triệu đồng) là tiền phí đi xuất khẩu lao động. Ngày 09/9/2023, chị Y nhờ chị M chuyển 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng) tiền chống trốn từ tài khoản Ngân hàng TMCP B số [...] của chị M đến tài khoản Ngân hàng trên của T.

Sau khi đã chuyển đủ tiền cho T theo thỏa thuận, đến tháng 10/2023, không thấy T làm thủ tục đi xuất khẩu lao động nên chị M, chị T2 và chị Y yêu cầu T phải trả lại toàn bộ số tiền đã nộp. Ngày 10/11/2023, T trả cho chị M 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), chị T2 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) và chị Y 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng), là khoản tiền chống trốn của vợ chồng chị T2, chị M và chị Y. Đến khoảng giữa tháng 11/2023, thấy chị T2 và chị Y nhiều lần đòi lại tiền và nghi ngờ việc mình không làm được thủ tục đi xuất khẩu lao động nên T đã làm hộ chiếu cho chị T2, anh N và chị Y, nhằm mục đích để chị T2, anh N và chị Y tin rằng T đang làm thủ tục đi xuất khẩu lao động, đồng thời để T kéo dài thời gian trả tiền. Sau đó, chị M, chị T2, chị Y tiếp tục yêu cầu T trả lại toàn bộ số tiền còn lại, nhưng T không có khả năng trả tiền nữa. Như vậy, tổng số tiền Phạm Thị Lệ T đã chiếm đoạt của chị Cao Thị M, chị Nguyễn Thị Y, chị Đỗ Thị Hồng T2 và anh Cao Văn N là 485.500.000đ (Bốn trăm tám mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra, Phạm Thị Lệ T thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên và đã trả lại toàn bộ số tiền 485.500.000đ (Bốn trăm tám mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng) đã chiếm đoạt cho chị Cao Thị M, chị Đỗ Thị Hồng T2, anh Cao Văn N và chị Nguyễn Thị Y.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2024/HS-ST ngày 07/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đã Quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Lệ T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Thị Lệ T 08 (T3) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Bản án còn tuyên về hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm, quyền kháng cáo đúng quy định của pháp luật.

Ngày 19/10/2024, bị cáo Phạm Thị Lệ T có đơn kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2024/HS-ST ngày 07/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Nội dung: Kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận 1 phần kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Lệ T. Sửa 1 phần quyết định Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2024/HS-ST ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, Điều 38 của bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Lệ T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Lệ T 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Luật sư bào chữa cho bị cáo: Không tranh luận gì về tội danh. Bị cáo đã tự nguyện trả tiền cho các bị hại, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 51 BLHS xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vì bị cáo đã ngăn chặn làm giảm bớt tác hại của tội phạm. Bị cáo hiện nay đang nuôi 2 con nhỏ, bố chết, mẹ già, chồng ly hôn, không ai đưa đón con hiện nay. Đề nghị áp dụng Điều 50, Điều 54 BLHS xử dưới 7 năm tù ở khoản 2 Điều 174 BLHS.

Bị cáo không có ý kiến bổ sung gì với bào chữa, đề nghị của Luật sư, xin giảm nhẹ mức hình phạt để sớm trở về xã hội nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Lệ T nộp trong hạn luật định nên được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về căn cứ, chứng cứ xác định hành vi phạm tội:

Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2023 đến tháng 9/2023, mặc dù không làm cho Công ty, Trung tâm xuất khẩu lao động nào, không có chức năng đưa người đi xuất khẩu lao động, nhưng do đang gặp khó khăn về kinh tế, cần tiền đầu tư kinh doanh nên Phạm Thị Lệ T đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối (thông qua mạng ZALO để gửi hình ảnh, nhắn tin), đưa ra các thông tin không đúng sự thật, tự nhận thực hiện được các thủ tục đưa người đi xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc để chị Cao Thị M, chị Đỗ Thị Hồng T2, anh Cao Văn N, chị Nguyễn Thị Y tin là thật, đã chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho T tổng số tiền 485.500.000đ (Bốn trăm tám mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng). Trong đó, chị M chuyển cho T 119.500.000 đồng; chị T2 và anh N chuyển cho T 280.000.000 đồng; chị Y chuyển cho T 86.000.000 đồng.

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa đã khai nhận về toàn bộ hành vi của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, thời gian, địa điểm, vật chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Như vậy có đủ cơ sở xác định, hành vi của Phạm Thị Lệ T đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự như Bản án của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ đã xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Lệ T kháng cáo và đề nghị xem xét lại toàn bộ nội dung bản án và xin giảm án. Thấy rằng: Hội đồng xét xử sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng đã không xem xét đến tình tiết khi bị cáo phạm tội thì bị cáo đang có thai (bị cáo phạm tội tháng 8/2023, sinh con tháng 10/2023) quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 của BLHS cần rút kinh nghiệm với cấp sơ thẩm. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, số tiền chiếm đoạt lớn, gần cuối khung khoản của điều luật. Xong Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo mức án 08 năm tù là phù hợp, nhằm trừng trị đồng thời giáo dục bị cáo và răn đe, làm gương cho những người khác. Từ đó không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ về việc chấp nhận kháng cáo, áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ là đúng việc đề nghị giảm hình phạt là chưa phù hợp tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên không được chấp nhận.

[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 345; điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Lệ T. Giữ nguyên quyết định Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2024/HS-ST ngày 07/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ về hình phạt đối với bị cáo Phạm Thị Lệ T.

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, Điều 38 của bộ luật hình sự.

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Lệ T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Lệ T 08 (T3) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Thị Lệ T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND huyện Đoan Hùng;
  • - VKSND huyện Đoan Hùng;
  • - Công an huyện Đoan Hùng;
  • - CQ.THAHS; CC.THADS h.Đoan Hùng;
  • - Bị cáo, người TGTT khác;
  • - Lưu HS; Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-PT ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 11/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án Hình sự Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2023 đến tháng 9/2023, mặc dù không làm cho Công ty, Trung tâm xuất khẩu lao động nào, không có chức năng đưa người đi xuất khẩu lao động, nhưng do đang gặp khó khăn về kinh tế, cần tiền đầu tư kinh doanh nên Phạm Thị Lệ Thuỷ đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối (thông qua mạng ZALO để gửi hình ảnh, nhắn tin), đưa ra các thông tin không đúng sự thật, tự nhận thực hiện được các thủ tục đưa người đi xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc để chị Cao Thị Mùi, chị Đỗ Thị Hồng Tuyến, anh Cao Văn Nam, chị Nguyễn Thị Yên tin là thật, đã chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho Thủy tổng số tiền 485.500.000đ (Bốn trăm tám mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng). Trong đó, chị Mùi chuyển cho Thủy 119.500.000 đồng; chị Tuyến và anh Nam chuyển cho Thủy 280.000.000 đồng; chị Yên chuyển cho Thủy 86.000.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger