Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

--------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Bản án sốNƯØC5GÔNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Ngày: TOA ÂN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và Bà Nguyễn Thị Vân

-Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2025/HSST ngày 11/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 20/02/2025 đối với:

1. Đặng Duy A - sinh năm: 1984, Nơi ĐKHKTT và nơi ở: thôn Đ, xã A, huyện M, TP .; giới tính: Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Đặng Văn T và con bà Nguyễn Thị H, vợ: Nguyễn Thị Hồng N; có 03 con: Lớn sinh năm: 2011; nhỏ sinh năm: 2019. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/12/2024 đến ngày 15/12/2024, thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”. Có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại: Ông Đặng Văn H1 - sinh năm: 1941 (đã chết)

Những người đại diện theo pháp luật của Ông Đặng Văn H1:

  • + Bà Đoàn Thị T1 – sinh năm: 1946
  • + Chị Đặng Thị Duyên H2 – sinh năm: 1979
  • + Anh Đặng Tuấn N1 – sinh năm: 1985

Đều địa chỉ: Thôn M, xã K, huyện Ứ, TP .

Đại diện theo uỷ quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại: anh Đặng Tuấn N1 – sinh năm: 1985 (Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn M, xã K, huyện Ứ, TP .

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Nguyễn Thị Hồng N – sinh năm: 1990 (Có mặt)

Địa chỉ: thôn Đ, xã A, huyện M, TP .

- Người làm chứng:

  • + Anh Lê Văn P – sinh năm: 1979 (Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn M, xã K, huyện Ứ, TP .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Duy A có giấy phép lái xe hạng C giá trị đến ngày 14/02/2028. Sáng ngày 06/12/2024, Duy A điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 29K-036.29 đến xã Đ, huyện Ứ, thành phố Hà Nội mua gạch đỏ về bán. Duy A điều khiển xe trên đường I2VĐ9 theo hướng từ thị trấn V đi Đ, khi đến gần khu vực ngã tư giao giữa đường I và đường M - N, thuộc đại phận thôn K, xã K, huyện Ứ thì cùng lúc này có ông Đặng Văn H1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 30Y4-4916 theo hướng Minh Đ đi Ngăm tiến vào ngã tư. Do Đặng Duy A điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức và có biển báo hiệu cảnh báo nguy hiểm, dẫn đến xảy ra va chạm giữa bên trái ốp kim loại chắn đà trước của xe ô tô biển kiểm soát 29K-036.29 do Đặng Duy A điều khiển với mặt ngoài tay nâng sau bên phải xe mô tô biển kiểm soát 30Y4-4916 do ông Đặng Văn H1 điều khiển. Sau khi va chạm xe ô tô do Đặng Duy A di chuyển về phía trước khoảng 06 mét thì dừng lại, xe mô tô và ông Đặng Văn H1 bị đẩy về phía trước, ngã xuống đường. Đặng Duy A xuống xe đưa ông Đặng Văn H1 đi cấp cứu, rồi quay lại hiện trường phối hợp làm việc và đến Công an huyện Ứ đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Hậu quả:

Ông Đặng Văn H1 bị thương, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ2, sau đó được chuyển đến Bệnh viện Q tiếp tục điều trị. Tuy nhiên do thương tích nặng, ông H1 được Bệnh viện trả về đã tử vong tại gia đình vào lúc 15 giờ 10 phút ngày 06/12/2024; Xe mô tô biển kiểm soát 30Y4-4916 và xe ô tô biển kiểm soát 29K-036.29 bị hư hỏng.

Vật chứng thu giữ:

  • - Xe ô tô biển kiểm soát 29K-036.29
  • - 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 29 000694 của xe ô tô biển kiểm soát 29K-036.29
  • - 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô và Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô số OTOBB24 3051873 của xe ô tô biển kiểm soát 29K-036.29.
  • - 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DB 3568619 của xe ô tô biển kiểm soát 29K-036.29.
  • - 01 Giấy phép lái xe hạng C số 01009001081 mang tên Đặng Duy A (có giá trị đến ngày 14/02/2028).
  • - Xe mô tô biển kiểm soát 30Y4-4916.
  • - 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số F721274 cấp ngày 16/03/2001 mang tên Đặng Văn H1.
  • - 01 Đăng ký xe mô tô, xe máy số 006670 của xe mô tô biển kiểm soát 30Y4-4916 cấp ngày 17/10/2009.
  • - 01 Đĩa CD nhãn hiệu Maxell, bên trong có chứa 01 tập tin video có tên “A01_20241206085000.mp4”, độ dài 09 phút 00 giây, kích thước 53mb được niêm phong theo quy định.
  • - 01 Đĩa CD nhãn hiệu Maxell, bên trong có chứa 01 tập tin video có tên “Video1.mp4”, độ dài 57 giây, kích thước 13,7mb được niêm phong theo quy định.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường.

Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là nơi đường giao nhau giữa đường I2VĐ9 và đường liên xã M - Đ. Bên phải đường I2VĐ9 đi Đông Lỗ có biển báo hiệu W244 “Đoạn đường hay xảy ra tai nạn”. Bên phải đường liên xã M - Đại Cường có biển báo hiệu W244 “Đoạn đường hay xảy ra tai nạn”. Hai bên đường không có dân cư sinh sống. Đường trải nhựa áp phan tương đối bằng phẳng. Lòng đường I2VĐ9 rộng 07 mét, lòng đường liên xã rộng 06 mét.

Lấy tâm biển báo W244 trên đường I2VĐ9 làm điểm mốc. Lấy mép đường bên phải đường I2VĐ9 theo hướng V đi Đ làm chuẩn, xác định:

  1. (1) Vết phanh: liền, có chiều hướng Vân Đ1 đi Đ, có kích thước (6,4x0,5)m.
    • + Đo tâm đầu (1) tới mép đường làm chuẩn là 5,8m. Đo vuông góc tới tâm biển báo W244 bên phải đường I2VĐ9 là 86,5m. Đo vuông góc tới tâm biển báo W244 bên phải đường liên xã là 50,4m.
    • + Đo tâm cuối (1) tới mép đường làm chuẩn là 5,8m.
  2. (2) Vết phanh: liền, có chiều hướng Vân Đ1 đi Đ, có kích thước (6,45x0,5)m.
    • + Đo tâm đầu (2) tới mép đường làm chuẩn là 3,95m. Đo vuông góc tới tâm đầu (1) là 0,1m.
    • + Đo tâm cuối (2) tới mép đường làm chuẩn là 3,75m.
  3. (3) vị trí xe 29K-036.29: Xe đỗ, đầu xe hướng Đ, đuôi xe hướng V:
    • + Đo hình chiếu tâm trục bánh sau cùng, bên ngoài, bên phải (3) tới mép đường làm chuẩn là 3,65m. Đo vuông góc tới tâm đầu (2) là 5,4m.
    • + Đo hình chiếu tâm trục bánh trước bên phải xe (3) tới mép đường làm chuẩn là 3,7m.
  4. (4) Vết phanh: liền, có chiều hướng Vân Đ1 đi Đ, có kích thước (4,8x0,2)m.
    • + Đo tâm đầu (4) tới mép đường làm chuẩn là 5,85m. Đo vuông góc tới hình chiếu tâm trục sau cùng (3) là 2,1m.
    • + Đo tâm cuối (4) tới mép đường làm chuẩn là 5,85m.
  5. (5) vết phanh: liền, có chiều hướng Vân Đ1 đi Đ có kích thước (5,1x0,2)m.
    • + Đo tâm đầu (5) tới mép đường làm chuẩn là 3,9m. Đo vuông góc tới tâm hình chiếu trục sau cùng (3) là 1,8m.
    • + Đo tâm cuối (5) tới mép đường làm chuẩn là 3,85m.
  6. (6) vết cày: đứt quãng, có chiều hướng Vân Đ1 đi Đ, có kích thước (10,7x0,01x0,005)m.
    • + Đo tâm đầu (6) tới mép đường làm chuẩn là 5,05m. Đo vuông góc tới hình chiếu tâm trục sau cùng (3) là 1,6m.
    • + Đo tâm cuối (6) tới mép đường làm chuẩn là 0,24m.
  7. (7) Vị trí xe mô tô biển kiểm soát 30Y4-4916: Xe đổ nghiêng bên phải, đầu xe hướng Đ, đuôi xe hướng V. Đo hình chiếu tâm trục bánh sau (7) tới mép đường làm chuẩn là 0,1m, đo vuông góc tới tâm đầu (5) là 8,1m. Đo hình chiếu tâm trục bánh trước (7) tới mép đường làm chuẩn là 0,45m.
  8. (8) Vết máu: Có kích thước (0,35x0,45)m. Đo tâm (8) tới mép đường làm chuẩn là 0,6m. Đo vuông góc tới tâm hình chiếu trục sau (7) là 4,5m.

Ngày 06/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ứ đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 2001, T2 - Bộ C giám định pháp y đối với tử thi ông Đặng Văn H1. Tuy nhiên, đại diện gia đình ông Đặng Văn H1 có đơn từ chối giải phẫu tử thi nên Cơ quan chỉ có thể tiến hành khám nghiệm các dấu vết bên ngoài tử thi.

Kết quả khám nghiệm tử thi.

Trên tử thi nạn nhân có các dấu vết sau:

Khám ngoài:

  • * Vùng đầu, mặt, cổ:
  • - Vùng đỉnh phải có diện sưng nề, tụ máu kích thước 5x4cm.
  • - Vùng trán hai bên có các vết sây sát da không liên tục trên diện 17x9cm.
  • - Vùng gò má, sống mũi, môi trên bên phải đến cung tiếp gò má trái có các vết sây sát da không liên tục trên diện 20x6cm.
  • - Hai mắt nhắm, kết mạc hai bên sung huyết, xuất huyết rải rác, nhãn cầu hai bên không tổn thương.
  • - Hai lỗ tai không có dịch máu chảy từ trong ra.
  • - Hai lỗ mũi có dịch máu chảy từ trong ra.
  • - Miệng ngậm, lưỡi nằm sau hai cung răng, các răng không tổn thương.
  • - Da vùng cổ không có dấu vết tổn thương.
  • * Vùng ngực, bụng, lưng:
  • Da vùng ngực, bụng, lưng không có dấu vết tổn thương.
  • * Vùng chậu hông – sinh dục:
  • Khung chậu vững, bộ phận sinh dục ngoài không có dấu vết tổn thương.
  • - Hậu môn bên ngoài không có phân.
  • * Vùng tay, chân:
  • - Tay phải: mặt sau 1/3 trên cẳng tay có vết sây sát, rách da kích thước 8x4cm. Mu tay có các vết sây sát da không liên tục trên diện 9x5cm.
  • - Tay trái: mu ngón II có vết sây sát da kích thước 1x1cm. Mu ngón V có vết sây sát da kích thước 0,5x0,5cm.
  • - Chân phải: mặt sau 1/3 dưới đùi có diện tụ máu kích thước 10x7cm. Mặt trước ngoài gối có vết sây sát da kích thước 3x2cm. Mắt cá ngoài có vết sây sát da kích thước 1x1cm. Mắt cá trong có vết sây sát da, tụ máu kích thước 8x4cm.
  • - Chân trái: mặt trước ngoài gối có các vết sây sát da, tụ máu trên diện 10x5cm. Mu chân có vết sây sát da, tụ máu kích thước 6x4cm.

Khám trong: Không mổ tử thi do gia đình kiên quyết từ chối, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ứ đã lập biên bản về việc này.

Ngày 07/01/2025, V - Bộ C có Bản kết luận giám định tử thi số 9628/KL-KTHS kết luận:

“VI. KẾT LUẬN

1. Các kết quả chính:

  • - Trên cơ thể có các vết tụ máu, sây sát da, rách da tập trung chủ yếu vùng đầu mặt và tay chân hai bên.
  • - Không mổ tử thi.
  • - Trong máu không tìm thấy ethanol (cồn) và các chất ma túy.

2. Kết luận

  • 2.1. Nguyên nhân chết
  • Do không mổ tử thi nên không có cơ sở xác định nguyên nhân chết của ông Đặng Văn H1.
  • 2.2. Giám định cồn, ma túy
  • Trong máu của tử thi Đặng Văn H1 không tìm thấy ethanol (cồn) và các chất ma túy.”

Ngày 26/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ứ đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 4419 đối với các hư hỏng của xe ô tô tải biển kiểm soát 29K-036.29 và xe mô tô biển kiểm soát 30Y4-4916.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 17/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ứ, kết luận:

  • + Các hư hỏng của xe ô tô tải biển kiểm soát 29K-036.29; Màu sơn: Vàng; nhãn hiệu DONGFENG; Loại xe Tải có mui; số máy: C2603378171854; Số khung: LGAXLL4X8F8813690; Trọng tải 13300kg, Đăng ký ngày 26/12/2023 có giá trị là 800.000đ (tám trăm nghìn đồng).
  • + Các hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 30Y4-4916; nhãn hiệu: Honda; Màu sơn: nâu; số máy: 1135817; Số khung: 114220; Đăng ký lần đầu ngày 17/10/2009 có giá trị là 1.490.000đ (một triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng).

Ngày 27/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Ứ đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 2105/QĐ-ĐTTH đối với dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 29K-036.29 và xe mô tô biển kiểm soát 30Y4-4916.

Tại bản kết luận giám định số 10292/KL-KTHS ngày 20/01/2025 của V - Bộ C, kết luận:

“V. KẾT LUẬN VỀ ĐỐI TƯỢNG GIÁM ĐỊNH:

1. Dấu vết va chạm, vị trí va chạm giữa xe ô tô biên số 29K-036.29 và xe mô tô biển số 30Y4-4916:

Dấu vết trượt xước, mất chất màu vàng ở bên trái ốp kim loại chắn đà trước xe ô tô biển số 29K-036.29 có chiều từ trước về sau (ảnh 6 trong bản ảnh giám định), phù hợp với dấu vết trượt bám dính chất màu vàng ở mặt ngoài tay nâng sau bên phải xe mô tô biển số 39Y4-4916 (ảnh 7 trong bản ảnh giám định). Dấu vết va chạm ở xe mô tô biển số 30Y4-4916 tại vị trí này có chiều từ phải sang trái.

2. Vị trí va chạm trên mặt đường tại hiện trường giữa xe ô tô biển số 29K-036.29 và xe mô tô biển số 30Y4-4916 nằm ở khu vực ngã tư giao nhau giữa đường I2VĐ9 với đường liên xã M - N.

3. Không xác định được tốc độ của xe ô tô biển số 29K-036.29 và xe mô tô biển số 30Y4-4916 tại thời điểm xảy ra va chạm.”

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong khí thở và xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Đặng Duy A sau khi xảy ra tai nạn xác định: Nồng độ cồn trong khí thở của Đặng Duy A là 0.000mg/L. Đặng Duy A âm tính với ma túy.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.

Với hành vi nên trên cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố Đặng Duy A về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” qui định tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự; Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 260; điểm I khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Duy A từ 15 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

  • + Về trách nhiệm dân sự: đã tự thỏa thuận xong, không đề nghị giải quyết
  • + Về vật chứng: 01 Giấy phép lái xe hạng C số 01009001081 mang tên Đặng Duy A được chuyển theo hồ sơ vụ án đề nghị trả lại cho bị cáo. Vật chứng còn lại lưu hồ sơ vụ án.
  • + Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đều thực hiện đúng, đầy đủ các qui định của pháp luật.

[2] Tại phiên toà các bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của đại diện người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Đặng Duy A là người có giấy phép lái xe ô tô theo quy định của pháp luật. Sáng ngày 06/12/2024, Đặng Duy A điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 29K-036.29 đi trên đường I2VĐ9 theo hướng thị trấn V đi xã Đ. Khi xe ô tô Duy A điều khiển đi đến ngã tư giao giữa đường I với đường liên xã M - Ngăm thì cùng lúc này có ông Đặng Văn H1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 30Y4-4916 theo hướng Minh Đ đi Ngăm tiến vào ngã tư. Do Đặng Duy A điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức và có biển báo hiệu cảnh báo nguy hiểm, dẫn đến va chạm giữa bên trái ốp kim loại chắn đà trước của xe ô tô biển kiểm soát 29K-036.29 do Đặng Duy A điều khiển với mặt ngoài tay nâng sau bên phải xe mô tô biển kiểm soát 30Y4-4916 do ông Đặng Văn H1 điều khiển gây tai nạn. Hậu quả: ông Đặng Văn H1 tử vong ngày 06/12/2024; xe mô tô biển kiểm soát 30Y4-4916 hư hỏng giá trị là 1.490.000đ (một triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng).

Do vậy, Hành vi của Đặng Duy A đã vi phạm Điều 12 Luật giao thông đường bộ; khoản 1 và khoản 3, Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. và đã phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Duy A là nghiêm trọng gây mất trật tự trị an xã hội, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng, tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo mới có thể có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xảy ra tai nạn cũng có một phần lỗi của bị hại không chú ý quan sát, không giảm tốc độ khi tiến vào ngã tư nơi giao nhau giữa đường I2VDD9 và đường liên xã M – Đại Cường nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: tại thời điểm xảy ra tai nạn ông Đặng Văn H1 83 tuổi do đó, bị cáo phạm tội đối với người từ đủ 70 tuổi trở lên quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự về

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo cùng gia đình đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bản thân bị hại khi điều khiển xe đến ngã tư đường cùng cấp không chú ý quan sát, bị cáo đầu thú, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội cũng đủ sức giáo dục đối với bị cáo, do đó, hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 cho bị cáo Đặng Duy A được hưởng án treo.

[4] Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đặng Duy A cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Đặng Văn H1 tổng số tiền là 225.000.000 đồng (hai trăm hai mươi lăm triệu đồng), đại diện gia đình ông H1 đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu đề nghị gì khác; Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Chị Nguyễn Thị Hồng N không yêu cầu bị cáo Đặng Duy A phải hoàn trả tiền bồi thường gia đình bị hại vì khoản tiền này là tài sản chung của hai vợ chồng.

[5] Về vật chứng:

  • - Quá trình điều tra xác định xe ô tô biển kiểm soát 29K-036.29, xe mô tô biển kiểm soát 30Y4-4916 cùng các giấy tờ có liên quan là tài sản hợp pháp của Đặng Duy A và ông Đặng Văn H1. Kết quả tra cứu các phương tiện trên không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Ngày 03/01/2025, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ứ ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 22 và 23 bằng hình thức trả lại cho Đặng Duy A và người đại diện hợp pháp của ông Đặng Văn H1 là anh Đặng Tuấn N1 (con trai ông H1) là có căn cứ.
  • - Đối với 01 Đĩa CD nhãn hiệu Maxell, bên trong có chứa 01 tập tin video có tên “A01_20241206085000.mp4", độ dài 09 phút 00 giây, kích thước 53mb; 01 Đĩa CD nhãn hiệu Maxell, bên trong có chứa 01 tập tin video có tên "Video1.mp4", độ dài 57 giây, kích thước 13,7mb được niêm phong theo quy định lưu trong hồ sơ vụ án.
  • - Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng C số 01009001081 mang tên Đặng Duy A.

[6] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; BỊ cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm i khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47; Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Toà án;

Tuyên bố bị cáo Đặng Duy A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt bị cáo Đặng Duy A 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Đặng Duy A cho UBND xã A, huyện M, Tp . và gia đình quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Đặng Duy A thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Đặng Duy A.

2. Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo Đặng Duy A 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] cấp ngày 14/2/2023 mang tên Đặng Duy A; sinh ngày: 21/10/1984; nơi cư trú: xã A, huyện M, thành phố Hà Nội;

4. Về án phí: Bị cáo Đặng Duy A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - CA; VKSND; chi cục THADS huyện Ứng Hoà;
  • - UBND xã nơi bị cáo ĐKTT;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hs; V/P./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Thanh Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 05/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)

  • Số bản án: 12/2025/QĐXXST-HS
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ – TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Đặng D A phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger