Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN TÂN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST

Ngày 05-3-2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Thanh Bắc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đình Cường và ông Lò Văn Yêu.

- Thư ký phiên toà: Ông Giang Tiến Hiệp - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị N, sinh năm 2000; Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Lù Văn H, sinh năm 1995; Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” cùng các lời khai có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Hoàng Thị N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lù Văn H về chung sống với nhau từ năm 2016, sau đó đi đăng ký kết hôn với nhau ngày 01/10/2018 tại UBND xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Việc kết hôn giữa chị và anh Lù Văn H là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Từ khi kết hôn vợ chồng chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Lù Văn H, chơi bời nghiện ngập ma túy, phá tán tài sản của gia đình nhằm chơi bời, hút hít ma túy. Chị và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh H không thay đổi mà vẫn tiếp tục chơi bời. Từ 01/2021, chị và anh H sống ly thân nhau, từ đó đến nay hai vợ chồng không quan tâm, chia sẻ gì với nhau. Nay chị nhận thấy bản thân không còn tình cảm gì với anh H, hôn nhân giữa hai vợ chồng không có hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

- Về con chung: Chị và anh Lù Văn H có 02 con chung là Lù Quốc H1, sinh ngày 10/8/2017 và Lù Thanh H2, sinh ngày 31/3/2019. Sau khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con chung là Lù Quốc H1 và Lù Thanh H2 cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh Lù Văn H phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về chia tài sản: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai có trong hồ sơ, bị đơn anh Lù Văn H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Hoàng Thị N về chung sống với nhau từ năm 2016, sau đó đến ngày 01/10/2018 thì đi đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Việc kết hôn giữa anh và chị N là tự nguyện, không bị ai ép buộc. Từ khi vợ chồng về chung sống thì anh và chị N chung sống với nhau hạnh phúc nhưng khoảng năm 2018 thì anh có chơi bời, sử dụng ma túy nên hai vợ chồng thường xuyên xảy ra những cãi vã. Đến năm 2021 thì chị N bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, từ đó anh và chị N sống ly thân nhau. Nay chị N đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn thì anh cũng nhất trí ly hôn với chị N để vợ chồng giải thoát cho nhau.

- Về con chung: Anh và chị Hoàng Thị N có 02 con chung là Lù Quốc H1, sinh ngày 10/8/2017 và Lù Thanh H2, sinh ngày 31/3/2019. Việc chị N đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị N nuôi dưỡng sau khi ly hôn thì anh không nhất trí mà anh cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung cho đến khi hai con chung thành niên, đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh đề nghị Tòa án buộc chị N phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung số tiền 1.000.000 đồng/1 tháng kể từ sau khi ly hôn cho đến khi hai con thành niên, đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

- Về chia tài sản: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung không có nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý vụ án; thụ lý đơn yêu cầu ly hôn; việc xác định quan hệ tranh chấp và tư cách của đương sự trong vụ án; việc ra và gửi thông báo thụ lý cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, 35, 39, Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị N và xem xét quyết định:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị N được ly hôn với anh Lù Văn H.

- Về con chung: Giao con chung là Lù Quốc H1, sinh ngày 10/8/2017 và Lù Thanh H2, sinh ngày 31/3/2019 cho chị Hoàng Thị N là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Hoàng Thị N không yêu cầu nên không xem xét.

- Về chia tài sản chung: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung chị Hoàng Thị N và anh Lù Văn H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Nguyên đơn chị Hoàng Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn chị Hoàng Thị N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con. Xác định bị đơn anh Lù Văn H có nơi cư trú tại bản N, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.

Chị Hoàng Thị N có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên căn cứ khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án không tiến hành hòa giải và Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt (Tại bản tự khai ngày 07/02/2025), vì vậy Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị N và anh Lù Văn H tự tìm hiểu, yêu thương nhau và về chung sống với nhau từ năm 2016. Đến ngày 01/10/2018 thì đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu, do vậy quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh H là quan hệ hôn nhân hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn. Từ khi chung sống năm 2016 đến khi xảy ra mâu thuẫn thì chị N và anh H đã có 04 năm hạnh phúc. Tuy nhiên, năm 2019 mâu thuẫn bắt đầu xuất hiện do anh H chơi bời và sử dụng ma túy, phá tán tài sản của gia đình. Chính anh H đã thừa nhận rằng vào khoảng năm 2018, anh bắt đầu chơi bời và sử dụng ma túy, dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Chị N đã cố gắng cho anh H cơ hội thay đổi và tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân, nhưng đến đầu năm 2021, khi chị nhận thấy anh H không thay đổi mà vẫn tiếp tục chơi bời, nghiện ngập ma túy, chị đã quyết định bỏ về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống. Từ đó, chị N và anh H sống ly thân và cả hai không quan tâm gì đến nhau. Hội đồng xét xử xác định rằng tình trạng mâu thuẫn giữa chị N và anh H xuất phát từ việc anh H chơi bời và sử dụng ma túy. Dù anh H biết rõ nguyên nhân mâu thuẫn nhưng không chịu thay đổi. Tình trạng hôn nhân của họ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài thêm. Do đó, việc chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N.

[3] Về con chung: Chị Hoàng Thị N và anh Lù Văn H có 02 con chung là Lù Quốc H1, sinh ngày 10/8/2017 và Lù Thanh H2, sinh ngày 31/3/2019. Chị N và anh H đều có nguyện vọng sau khi ly hôn được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cả hai con chung cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử nhận thấy, từ sau khi chị N và anh H sống ly thân thì con chung đều ở với chị N và ông bà ngoại, hiện nay cháu đang sinh sống, học tập ổn định, chị N làm nghề nghiệp tự do (làm thuê kết hợp với làm nông nghiệp) có thu nhập ổn định, đủ lo cho cuộc sống của chị và các con, ngoài ra còn có sự hỗ trợ trông nom, chăm sóc từ ông bà ngoại. Đặc biệt là nguyện vọng của cháu H1 là muốn được ở cùng với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn. Như vậy nguyện vọng của cháu H1 cũng phù hợp với nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con của chị N, do đó yêu cầu được nuôi con sau khi ly hôn của chị N phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình và được chấp nhận. Đối với yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con của anh H, Hội đồng xét xử nhận thấy bản thân anh H hiện đang thuộc diện đối tượng nghiện ma túy, thuộc danh sách quản lý người nghiện tại địa phương và anh H cũng thừa nhận có chơi bời, sử dụng chất ma túy. Về nghề nghiệp, thu nhập của anh H, anh H khai bản thân công việc không ổn định, nghề nghiệp chính là làm ruộng và làm tự do nên không xác định được thu nhập. Về môi trường, hoàn cảnh sống của anh H không lành mạnh, việc giao con cho anh H nuôi dưỡng có thể ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của con, cả về thể chất và nhân cách của con sau này nên yêu cầu được nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 1.000.000 đồng/1 tháng của anh H không được chấp nhận.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hoàng Thị N không yêu cầu anh Lù Văn H phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với yêu cầu cấp dưỡng của anh Lù Văn H, do yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung của anh H không được chấp nhận nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về chia tài sản chung: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung chị Hoàng Thị N và anh Lù Văn H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Hoàng Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quan điểm giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Uyên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị N được ly hôn với anh Lù Văn H.
  2. Về con chung: Giao hai con chung là Lù Quốc H1, sinh ngày 10/8/2017 và Lù Thanh H2, sinh ngày 31/3/2019 cho chị Hoàng Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung Lù Quốc H1 và Lù T thành niên, đủ 18 tuổi.

    Anh Lù Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Hoàng Thị N không yêu cầu anh Lù Văn H phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về chia tài sản chung: Tài sản chung, nợ chung, cho vay chung chị Hoàng Thị N và anh Lù Văn H đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  5. Về án phí: Chị Hoàng Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị Hoàng Thị N đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: 0000964 ngày 02/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, nay chuyển thành án phí.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Uyên;
  • - UBND xã Mường Khoa, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu;
  • - Nguyên đơn;
  • - Bị đơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thanh Bắc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho chị Nhiên được ly hôn với anh Hiện, giao con chung cho chị Nhiên trực tiếp nuôi dưỡng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger