|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST
Ngày 04/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hà Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Thanh Huyền.
2. Bà Vũ Thị Thanh Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Thao tham gia phiên tòa:
Ông Ngô Duy Long - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 68/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/02/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.
Bị đơn: Chị Tăng Thị Hoài T, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Khu B, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
(Anh P và chị T có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện cũng như các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn P trình bày:
Anh và chị Tăng Thị Hoài T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 31/8/2022 tại UBND thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn do đặc thù công việc nên anh vẫn thuê nhà sống và làm việc tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ còn chị T vẫn sống cùng mẹ đẻ ở Khu B, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ và đến cuối tuần thì chị T xuống V ở cùng anh. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận hạnh phúc, đến tháng 10/2022 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh phát hiện chị T đi chụp ảnh cưới với người đàn ông khác trong khi cả hai đang là vợ chồng, anh có nói thì chị T chối và cho rằng chỉ là đi chụp ảnh mẫu. Từ đó dẫn đến anh và chị T thường xuyên xảy ra cãi vã và mất niềm tin dành cho nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2023 cho đến nay và không còn quan hệ về mặt tình cảm. Nay xét tình cảm vợ chồng không còn anh xin được ly hôn với chị Tăng Thị Hoài T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn M, sinh ngày 17/7/2023. Nếu ly hôn anh đồng ý để cho chị T được nuôi con và sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T mỗi tháng 2.500.000đ.
Đối với yêu cầu của chị T là yêu cầu anh phải cấp dưỡng tiền nuôi con làm một lần nếu có thể còn không thì cấp dưỡng theo quý hoặc theo năm thì anh không đồng ý, anh chỉ có thể cấp dưỡng theo tháng. Vì hiện tại anh là lao động tự do cụ thể là thợ làm tóc (làm thuê tại salon tóc) với thu nhập trung bình khoảng 10.000.000đ/tháng, ngoài ra không có khoản thu nhập nào khác hay tài sản riêng gì có giá trị.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết..
Bị đơn chị Tăng Thị Hoài T trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn P tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 31/8/2022 tại UBND thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng thuê nhà ở trọ tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ, chỉ đến khi chị sinh con thì hai mẹ con chuyển về sống chung với mẹ đẻ chị tại Khu B, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ còn anh P vẫn làm ở V và đi lại giữa V - L để về với mẹ con tôi. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận hạnh phúc, đến tháng 01/2024 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh P chơi bời nợ nần bỏ nhà đi và trong quá trình bỏ nhà anh P còn đăng ảnh thân mật với người phụ nữ khác, không quan tâm đến gia đình vợ con. Vợ chồng đã sống ly thân từ 01/2024 cho đến nay, không liên lạc gì với nhau và không còn quan hệ về mặt tình cảm. Nay anh P làm đơn xin ly hôn chị xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn và do con còn nhỏ không muốn ảnh hưởng đến tâm lý của con cũng như ảnh hưởng đến công việc của chị nên chị không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn M, sinh ngày 17/7/2023. Hiện cháu M đang ở cùng chị. Trường hợp anh P kiên quyết xin ly hôn chị xin được nuôi con và yêu cầu anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng 2.500.000đ và chị yêu cầu anh P cấp dưỡng tiền nuôi con làm một lần nếu có thể còn không thì cấp dưỡng theo quý hoặc theo năm.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa ngày 04/3/2025:
Nguyên đơn anh Nguyễn Văn P có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại đơn xin vắng mặt anh P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình.
Bị đơn chị Tăng Thị Hoài T có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại đơn xin vắng mặt chị T vẫn giữ nguyên quan điểm tại Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng cũng như việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ của người tiến hành tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 58, Điều 81, 82, 83 Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 5, 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn.
Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc giao con chung Nguyễn M, sinh ngày 17/7/2023 cho chị Tăng Thị Hoài T trực tiếp nuôi dưỡng do con dưới 36 tháng tuổi và chị T có đủ điều kiện chăm sóc.
Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Văn P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng chị Tăng Thị Hoài T 2.500.000 đồng/tháng đến khi cháu M trưởng thành.
Về tài sản chung và công nợ: Hai bên xác định không có tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Anh Nguyễn Văn P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn là chị Tăng Thị Hoài T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: khu B, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
- Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn P và bị đơn chị Tăng Thị Hoài T vắng mặt tại phiên tòa đã có đơn xin xét xử vắng mặt hợp lệ nên căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn P và chị Tăng Thị Hoài T kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ ngày 31/8/2022 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, theo anh P trình bày thì nguyên nhân mâu thuẫn là do anh phát hiện chị T đi chụp ảnh cưới với người đàn ông khác trong khi cả hai đang là vợ chồng, anh có nói thì chị T chối và cho rằng chỉ là đi chụp ảnh mẫu. Từ đó dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã và mất niềm tin dành cho nhau. Về phía chị T cũng thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh P chơi bời nợ nần bỏ nhà đi, không quan tâm đến gia đình vợ con, thường xuyên đăng ảnh thân mật với người phụ nữ khác.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải để anh chị về đoàn tụ cùng nhau nhưng phía anh P vẫn kiên quyết xin ly hôn vì tình cảm vợ chồng không còn. Bản thân anh P và chị T cũng thừa nhận vợ chồng đã sống ly thân hơn một năm nay, không quan tâm, không liên lạc gì với nhau và không còn quan hệ về mặt tình cảm. Chị T không đồng ý ly hôn nhưng cũng không đưa ra được biện pháp nào để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng.
Tòa án xác minh tại UBND thị trấn H và tại khu B, thị trấn H được chính quyền địa phương cung cấp: Anh Nguyễn Văn P và chị Tăng Thị Hoài T và có đăng ký kết hôn ngày 31/8/2022 tại UBND thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn chị T vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú và chung sống cùng mẹ đẻ tại khu B, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ do chị T hiện đang làm việc tại thị trấn H còn anh P thuê nhà mở quán làm tóc tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ và thỉnh thoảng về nhà chị T ở. Quá trình chung sống vợ chồng anh P, chị T có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể địa phương không nắm được, chỉ biết một năm trở lại đây không thấy anh P về nhà chị T nữa, vợ chồng hiện đã sống ly thân.
Tại phiên tòa hôm nay mặc dù anh P vắng mặt nhưng đã có quan điểm thể hiện tại Bản tự khai và Đơn trình bày đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn đối với chị T vì hiện nay tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy, có thể khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh P và chị T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần xử cho anh P được ly hôn với chị T là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Cả anh Nguyễn Văn P và chị Tăng Thị Hoài T đều xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn M, sinh ngày 17/7/2023. Nếu ly hôn đặt ra chị T xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và yêu cầu anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Anh P cũng nhất trí khi ly hôn giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và cấp dưỡng nuôi con chung như chị T yêu cầu.
Xét thấy đây là sự tự nguyện của các bên, phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật. Do đó, cần giao cháu M cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; anh P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T 2.500.000đồng/tháng là phù hợp.
Về phương thức cấp dưỡng: Quá trình giải quyết vụ án chị T yêu cầu anh P cấp dưỡng tiền nuôi con một lần nếu có thể còn không thì cấp dưỡng theo quý hoặc theo năm. Anh P có quan điểm không đồng ý cấp dưỡng một lần, theo quý hoặc theo năm mà chỉ có thể cấp dưỡng theo tháng với lý do hiện anh là lao động tự do, ngoài ra không có tài sản riêng gì có giá trị.
Theo quy định tại Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình, các bên có thể thỏa thuận phương thức cấp dưỡng theo định kỳ, hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần và nếu các bên không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, anh P hiện là lao động tự do thu nhập không ổn định và anh P đề nghị được cấp dưỡng theo tháng do vậy cần chấp nhận để phù hợp với hoàn cảnh công việc cũng như đảm bảo khả năng chu cấp đều đặn cho con của anh P.
- Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn P và chị Tăng Thị Hoài T đều xác nhận là không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề giải quyết.
[3] Về án phí: Anh Nguyễn Văn P phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1, 3 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn P ly hôn chị Tăng Thị Hoài T.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn M, sinh ngày 17/7/2023 cho chị Tăng Thị Hoài T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi con chung thành niên.
Anh Nguyễn Văn P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Tăng Thị Hoài T 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) một tháng, kể từ tháng 4/2025 cho đến khi cháu Nguyễn My thành N.
Phương thức cấp dưỡng: Cấp dưỡng hàng tháng.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung, công nợ chung và công sức đóng góp gia đình: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000786 ngày 24/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Anh P đã nộp đủ tền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh P còn phải nộp tiền án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Anh Nguyễn Văn P và chị Tăng Thị Hoài T vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự."
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Thị Hà Thu |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM THAO - TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, con chung
