|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 11/2025/HS-ST Ngày 26 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định
- Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bốn và bà Vũ Thị Lâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại phòng xử án Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 14/02/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Hữu P, tên gọi khác: không có; sinh ngày 11 tháng 12 năm 1998 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nơi thường trú: xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; nơi ở hiện nay: ngõ D, phố Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu C và bà Phạm Thị H; có vợ là: Bùi Thị N (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt quả tang tạm giữ từ ngày 20/12/2024 đến ngày 29/12/2024, tạm giam từ ngày 29/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến:
- Anh Lê Hữu D, sinh năm 2000; địa chỉ nơi thường trú: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: ngõ D, phố Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Phạm Văn T, sinh năm 2002; địa chỉ: thôn C, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 18 giờ 20 phút ngày 20/12/2024, tại khu I, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Công an thị xã Q tiến hành kiểm tra, phát hiện Lê Hữu P có biểu hiện nghi cất giữ trái phép chất ma tuý. Thu giữ 01 gói giấy màu trắng được dán băng dính vào đùi bên trái của P, bên trong có 01 túi nilon màu trắng loại khóa kẹp, kích thước 2x2cm có chứa chất tinh thể màu trắng dạng cục (nghi là ma túy). P khai đây là ma túy “đá” cất giấu để sử dụng.
Tại Kết luận giám định số: 2058/KL-KTHS, ngày 25/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Mẫu vật ghi thu của Lê Hữu P gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,282gam.
Tại cơ quan điều tra Lê Hữu P khai nhận: Khoảng 15 giờ, ngày 20/12/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy “đá”, Lê Hữu P đi từ nhà ở trọ ở phường Đ, thành phố Hải Phòng đến khu vực chân cầu A, thuộc huyện A, thành phố Hải Phòng tìm mua ma túy. Tại đây, Lê Hữu P gặp và mua 01 túi ma túy “đá” của một người đàn ông không quen với biết giá 300.000 đồng, sau đó Lê Hữu P sử dụng giấy vệ sinh bọc lại và dùng băng dính dán váo phía đùi bên trái của Lê Hữu P đi về nhà trọ. Khoảng 17 giờ cùng ngày, Lê Hữu P rủ Lê Hữu D (em trai ruột) đến thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh chơi, trên đường đi thì bị Công an thị xã Q kiểm tra, phát hiện thu giữ túi ma túy.
Cáo trạng số 1329/CT-VKSQY ngày 11/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đã truy tố Lê Hữu P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị:
- Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lê Hữu P từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 20/12/2024. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo;
- Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy ma tuý hoàn lại sau giám định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Hữu P khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy “đá”, khoảng 15 giờ, ngày 20/12/2024, Lê Hữu P từ nhà ở trọ ở phường Đ, thành phố Hải Phòng đi đến khu vực chân cầu A, thuộc huyện A, thành phố Hải Phòng tìm mua ma túy, đã gặp và mua 01 túi ma túy “đá” của một người đàn ông không quen với biết giá 300.000 đồng, sau đó sử dụng giấy vệ sinh bọc lại và dùng băng dính dán váo phía đùi bên trái của mình rồi đi về nhà trọ. Khoảng 17 giờ cùng ngày, Lê Hữu P rủ Lê Hữu D (em trai ruột) đến thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh chơi, trên đường đi thì bị Công an thị xã Q kiểm tra, phát hiện thu giữ túi ma túy; bị cáo không có ý kiến gì về nội dung Cáo trạng bị Viện kiểm sát đã truy tố và thấy bị đưa ra xét xử là đúng người đúng tội, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.
Người chứng kiến: Anh Lê Hữu D và anh Phạm Văn T, có lời khai trong quá trình điều tra có trong hồ sơ thể hiện phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc định tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Hữu P thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Hữu P tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai xác nhận của người chứng kiến và nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 18 giờ 20 phút ngày 20/12/2024, tại khu I, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Lê Hữu P đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,282 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị Công an thị xã Q phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước. Do đó, hành vi của bị cáo Lê Hữu P đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố bị cáo và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Về hình phạt:
[3.1]Hình phạt chính:
- Về tính chất, mức độ phạm tội bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội, vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, cần có một hình phạt nghiêm, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để rèn luyện, giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm của bản thân để trở thành công dân tốt.
[3.2] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo lao động tự do không có công việc và thu nhập ổn định, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật ma tuý hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 2058/KL-KTHS, ngày 25/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Về các tình tiết khác trong vụ án: Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Lê Hữu P tại thành phố Hải Phòng, quá trình điều tra không xác định được con người cụ thể, Lê Hữu D là người đi cùng bị cáo đến thị xã Q không biết việc bị cáo mua và cất giấu ma túy nên không có căn cứ xử lý.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố: bị cáo Lê Hữu P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt bị cáo Lê Hữu P 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 20/12/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 2058/KL-KTHS, ngày 25/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q.
(Toàn bộ số vật chứng, tài sản trên có đặc điểm và tình trạng như Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản vào hồi 16 giờ, 25 phút, ngày 17 tháng 01 năm 2025 giữa Công an thị xã Q với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ: khoản 1 Điều 331; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phúc Định |
5
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Hữu Phương phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
