|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày 25-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Nghĩa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Hùng Em
Ông Nguyễn Hữu Phúc
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Đào Văn H, sinh năm 1985 tại tỉnh Đồng Tháp. Nơi cư trú: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Thanh H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H2; chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 23/4/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 28/10/2021; Ngày 13/5/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 15/7/2023; tiền sự: Không; tạm giữ: Ngày 22/9/2024; tạm giam: Ngày 28/9/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T; có mặt.
2. Trần Phước V, sinh năm 1993 tại tỉnh Đồng Tháp. Nơi cư trú: ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn P (đã chết) và bà Phạm Thị L; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ: Ngày 22/9/2024; tạm giam: Ngày 28/9/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Võ Văn Ú, sinh năm 1989; vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 21/9/2024, Trần Phước V thuê xe ôm đến nhà Đào Văn H tại ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để chơi. Trong lúc nằm võng phía sau nhà, V rủ H sử dụng ma túy, H trả lời không có tiền, nên V đưa 200.000 đồng cho H để mua ma túy. H điện thoại cho N (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) hỏi mua ma túy, N trả lời không có bán để liên hệ mua dùm. Đến 21 giờ cùng ngày, H đi bộ đến cụm dân cư ấp L, xã P, huyện T gặp một nam thanh niên (khoảng 35 tuổi, không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) điều khiển xe Wave (màu trắng, không nhớ biển số), H mua 300.000 đồng ma túy, thanh niên này giao 02 đoạn ống nhựa (màu trắng) bên trong có ma túy, H trả số tiền 300.000 đồng (H góp thêm 100.000 đồng với số tiền 200.000 đồng của V). Sau khi có ma túy, H về nhà để vào hộp giấy (màu đen - cam), gần vị trí V đang nằm võng.
Đến lúc 22 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện T phối hợp Công an xã P đến nhà Đào Văn H kiểm tra, trong nhà có Hát, V, phát hiện 01 hộp giấy (màu đen - cam), bên trong có 02 đoạn ống nhựa màu trắng, bên trong có ma túy, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng, đối với các vật chứa ma túy niêm phong mang giám định.
Vật chứng thu giữ của Đào Văn H: Mẫu tinh thể trong phong bì còn lại sau giám định có khối lượng 0,103 gam, được dán giấy niêm phong lại ghi “Niêm phong số 1355, ngày 22/9/2024”, có đóng dấu tròn của “Phòng K - Công an tỉnh Đồng Tháp” và có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Bé N1, Phạm Phước B, Trần Phước V và có in 02 dấu vân tay màu đỏ ghi họ tên Đào Văn H; Một hộp giấy (màu đen - cam) trên hộp có dòng chữ LIGHTER; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO 1718 (màu trắng bạc) gắn sim số 0325798050, số IMEI 866950039669678 (điện thoại đã qua sử dụng).
Thu giữ của Trần Phước V: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung J7 Prime (màu trắng - bạc) gắn sim số 0962862317, số IMEI 35281009825246 (điện thoại đã qua sử dụng).
Tại Kết luận giám định số: 1308/KL-KTHS, ngày 25/9/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ, kết luận: Tinh thể rắn chứa trong 2 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín, được niêm phong trong phong bì màu trắng nêu trên gửi giám định đều là chất ma tuý, có tổng khối lượng 0,153 gam, loại Methamphetamine (số thứ tự 247, mục IIC thuộc danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ). Hoàn trả đối tượng gửi giám định: mẫu tinh thể rắn trong phong bì còn lại sau giám định có khối lượng 0,103 gam.
Tại Bản Cáo trạng số: 09/CT-VKSTN ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Đào Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Trần Phước V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên phân tích các tình tiết cấu thành tội phạm và khẳng định Cáo trạng đã truy tố bị cáo Đào Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Trần Phước V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Về tình tiết tăng nặng đối với các bị cáo không có, về tình tiết giảm nhẹ thì trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo H, V đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính nuôi mẹ già lớn tuổi. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Đào Văn H, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo H mức án từ 05 - 06 năm tù.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Phước V, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo V mức án từ 01 - 02 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Giữ nguyên như Cáo trạng.
Đối với người tên N, bị cáo H khai liên hệ mua ma túy, không biết họ tên địa chỉ cụ thể, đã xóa số điện thoại, Cơ quan điều tra không làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo H, không biết họ tên địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra không làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
Các bị cáo Đào Văn H, Trần Phước V khai: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như nội dung cáo trạng đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, các bị cáo không tham gia tranh luận.
Lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Toà án đã triệu tập hợp lệ người làm chứng Võ Văn Ú đến tham gia phiên toà, nhưng vắng mặt không lý do. Tại Cơ quan điều tra, anh Ú đã có lời khai và việc vắng mặt của anh Ú không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 21/9/2024 của Công an huyện T, Kết luận giám định số: 1308/KL-KTHS ngày 25/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, lời khai người làm chứng, cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 22 giờ 30 phút ngày 21/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện T phối hợp Công an xã P đến nhà bị cáo Đào Văn H tại ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp kiểm tra; trong nhà có bị cáo H và bị cáo Trần Phước V, phát hiện 01 hộp giấy màu đen - cam, bên trong có 02 đoạn ống nhựa màu trắng, bên trong có ma túy nên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng nghi vấn là ma túy niêm phong mang giám định. Theo Kết luận giám định số: 1308/KL-KTHS, ngày 25/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận là chất ma tuý, có tổng khối lượng 0,153 gam, loại Methamphetamine.
Do đó, Cáo trạng số: 09/CT-VKSTN ngày 06/01/2025 truy tố bị cáo V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Đối với bị cáo H đã có tiền án về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” chấp hành xong ngày 15/7/2023 chưa xóa án tích và đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này Viện kiểm sát truy tố bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Tại điểm c khoản 1 và điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
o) Tái phạm nguy hiểm.”
Hành vi phạm tội của các bị cáo H, V là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Các bị cáo H, V là người thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng không tốt đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, thể hiện việc các bị cáo xem thường pháp luật. Bị cáo H bị 02 lần kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng không ăn năn hối cải mà tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.
Giữa các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội chỉ là đồng phạm giản đơn, khi thống nhất ý chí thì cùng nhau thực hiện phạm tội chứ không có sự sắp xếp, phân công cụ thể, rõ ràng vai trò trước khi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Bộ luật hình sự, cụ thể: Bị cáo V thực hiện với vai trò chính, là người chủ động rủ bị cáo H mua ma túy về sử dụng và đưa tiền 200.000 đồng cho bị cáo H đi mua ma túy. Vai trò đồng phạm của bị cáo H khi được bị cáo V rủ thực hiện hành vi phạm tội, không can ngăn mà đồng ý và thực hiện hành vi đi mua ma túy và hùn số tiền 100.000 đồng.
[4] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo V, H: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo H, V đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo H, V đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính nuôi mẹ già lớn tuổi. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[5] Hình phạt bổ sung: Tội danh mà các bị cáo H, V đã phạm, ngoài hình phạt chính thì pháp luật còn quy định hình phạt bổ sung.
Các bị cáo H, V làm thuê thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với mẫu tinh thể rắn trong phong bì còn lại sau giám định có khối lượng 0,103 gam (Theo Kết luận giám định số: 1308/KL-KTHS, ngày 25/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ), được dán giấy niêm phong lại ghi “Niêm phong số 1355, ngày 22/9/2024”, có đóng dấu tròn của “Phòng K Công an tỉnh Đ” và có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Bé N1, Phạm Phước B, Trần Phước V và có in 02 dấu vân tay màu đỏ ghi họ tên Đào Văn H; 01 (một) hộp giấy (màu đen - cam) trên hộp có dòng chữ LIGHTER. Xét thấy, các vật chứng trên là chất ma túy là vật cấm tàng trữ và liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO 1718 (màu trắng bạc) gắn sim số 0325798050, số IMEI 866950039669678 (điện thoại đã bị hư hỏng, không mở được nguồn) thu giữ của Đào Văn H và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung J7 Prime (màu trắng - bạc) gắn sim số 0962862317, số IMEI 35281009825246 (mặt kính điện thoại bị nứt vỡ nhiều nơi, không mở được được nguồn) thu giữ của Trần Phước V. Xét thấy, điện thoại nêu trên thuộc sở hữu các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo H và V là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Đối với người tên N. Tại phiên tòa, bị cáo H khai liên hệ mua ma túy nhưng N nói không có bán và bị cáo cũng không biết rõ họ, địa chỉ cụ thể của N ở đâu và đã xóa số điện thoại hiện nay không nhớ. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa làm việc được, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục xác minh làm rõ và xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
[8] Đối với người trực tiếp bán ma túy cho bị cáo H. Tại phiên tòa, bị cáo khai đi bộ một mình đến cụm dân cư ấp L, xã P, huyện T gặp một nam thanh niên (khoảng 35 tuổi, không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) điều khiển xe Wave (màu trắng, không nhớ biển số), mua 300.000 đồng ma túy. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa làm việc được, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục xác minh làm rõ và xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
[09] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tại phiên tòa có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về án phí: Các bị cáo H, V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Phước V, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Phước V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 22/9/2024.
-
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đào Văn H, phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đào Văn H 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 22/9/2024.
-
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu tinh thể rắn trong phong bì còn lại sau giám định có khối lượng 0,103 gam, được dán giấy niêm phong lại ghi “Niêm phong số 1355, ngày 22/9/2024”, có đóng dấu tròn của “Phòng K Công an tỉnh Đ” và có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Bé N1, Phạm Phước B, Trần Phước V và có in 02 dấu vân tay màu đỏ ghi họ tên Đào Văn H; 01 (một) hộp giấy (màu đen - cam) trên hộp có dòng chữ LIGHTER.
- Trả lại cho bị cáo Đào Văn H: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO 1718 (màu trắng bạc) gắn sim số 0325798050, số IMEI 866950039669678 (điện thoại đã bị hư hỏng, không mở được nguồn).
- Trả lại cho bị cáo Trần Phước V: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung J7 Prime (màu trắng - bạc) gắn sim số 0962862317, số IMEI 35281009825246 (mặt kính điện thoại bị nứt vỡ nhiều nơi, không mở được nguồn).
(Tất cả vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý).
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo Đào Văn H, Trần Phước V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tấn Nghĩa |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Văn H và đồng phạm bị xét xử về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
