Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BỈM SƠN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày 25 - 02 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đào Văn Nam
Các Hội thẩm nhân dân: ông Hoàng Văn Lược và ông Vũ Văn Thoa.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Kim Dung - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Lê Huyền Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với:

- Các bị cáo:

  1. Trịnh Đình H, sinh ngày 08 tháng 04 năm 1967, tại xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: xóm B, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số: [...]; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Đình D (đã chết) và bà: Cao Thị P; có vợ: Nguyễn Thị V và 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 19/03/2015, bị Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; ngày 23/4/2020, bị Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”; bị tạm giữ từ ngày 30/10/2024 đến ngày 05/11/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B, tỉnh Thanh Hóa đến nay. Có mặt.
  2. Đặng Thành, sinh ngày 06 tháng 04 năm 1973, tại xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: E N, Khu phố H, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Căn cước công dân số: [...]; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Trung H1 và bà: Trần Thị Y (đều đã chết); có vợ: Quách Thị H2 và 03 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 01/04/1992, bị Toà án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”; ngày 17/07/1993, bị Toà án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 09 tháng tù về tội “làm hàng giả”, tổng hợp hình phạt với 12 tháng tù của bản án ngày 01/4/1992, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 21 tháng tù; bị tạm giữ từ ngày 30/10/2024 đến ngày 05/11/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B, tỉnh Thanh Hóa đến nay. Có mặt.

- Người làm chứng: Nguyễn Văn V1, sinh năm 1960; địa chỉ: Khu phố H, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

    Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 30 tháng 10 năm 2024, tổ công tác Công an thị xã B đang làm nhiệm vụ tại khu phố H, phường B, thị xã B phát hiện tại số nhà E, khu H, phường B có biểu hiện nghi vấn tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Tổ công tác mời người chứng kiến, tiến hành kiểm tra phát hiện trong phòng khách có hai đối tượng là Đặng Trung T và Trịnh Đình H có hành vi “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tiếp tục kiểm tra, phát hiện tại gầm bàn máy tính trong phòng khách có 01 bình thuỷ tinh màu trắng trong, 01 cóng thuỷ tinh màu trắng, 01 bật lửa ga màu hồng, 01 túi zip màu trắng bên trong có bám dính chất dạng tinh thể màu trắng, 02 ống hút màu trắng. H và T khai nhận các đồ vật trên cùng với chất tinh thể màu trắng bám dính trong túi zip và trong cóng thuỷ tinh là dụng cụ H và T vừa dùng để sử dụng ma tuý, loại ma tuý đá. Tổ công tác tiến hành lập biên bản vụ việc, thu giữ, niêm phong tang vật và ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với T và H theo quy định.

    Vật chứng thu giữ gồm: thu giữ của Đặng Trung T 01 (một) bình thuỷ tinh màu trắng trong, hình trụ tròn loại 150ml, cao khoảng 09cm, đường kính miệng bình khoảng 06cm, đường kính đáy bình khoảng 07cm, có nắp nhựa màu đen, trên nắp được đục 02 lỗ, một lỗ lắp ống nhựa màu trắng ngả vàng dài khoảng 02cm, một lỗ lắp đầu nối thẳng, thân bằng đồng, miệng đầu nối bằng nhựa màu xanh, bên trong bình có chứa khoảng 100ml chất lỏng màu trắng trong; 01(một) cóng thuỷ tinh màu trắng trong, dài khoảng 13cm bên trong có bám dính chất màu trắng ở thân cóng và ở đáy cóng có ám vết cháy màu đen; 01(một) bật lửa gas màu hồng trên thân một mặt có chữ “Lộc Cô C” và một mặt có chữ “Đắc Tài Đắc Lộc”; 01 (một) túi zip màu trắng kích thước (3x4)cm bên trong có bám dính chất dạng tinh thể màu trắng; 02 (hai) ống hút màu trắng dài khoảng 20cm; 01 điện thoại di động có chữ Samsung, màu đen, bên trong lắp 02 sim: thuê bao số 0912568747 và số [...] đã qua sử dụng. Thu giữ của Trịnh Đình H 01 điện thoại di động có chữ OPPO, màu xanh, bên trong lắp 01 sim thuê bao số 0355282987, đã qua sử dụng.

    Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Trung T tại Số nhà E, N, khu H, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa, cơ quan điều tra không thu giữ được đồ vật, tài sản gì.

    Tại Kết luận giám định số 4216/KL-KTHS ngày 04/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “chất dạng tinh thể màu trắng bám dính bên trong túi zip màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, có tổng khối lượng (trọng lượng) 0,003g (không phẩy không không ba gam) loại Methamphetamine; chất màu trắng bám dính bên trong cóng thuỷ tinh của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng (trọng lượng) chất ma tuý”.

    Tại Kết luận giám định số 4218/KL-KTHS ngày 04/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận kết luận: “tìm thấy chất ma tuý, loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Đặng Trung T, Trịnh Đình H và trong mẫu chất lỏng màu trắng niêm phong gửi giám định”.

    Quá trình điều tra, Trịnh Đình H và Đặng Trung T khai nhận: Trịnh Đình H và Đặng Trung T là bạn cùng quê, chơi với nhau từ trước. Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 30/10/2024, H bắt xe khách đến nhà T để chơi. Khi đến nơi, do T đang rửa xe ở trước nhà nên H vào phòng khách ngồi đợi. Khoảng 05 phút sau, T rửa xe xong rồi vào phòng khách ngồi nói chuyện với H. Sau đó, H nói với T “lấy cái năm về rồi anh em mình chơi” (ý là H nhờ T mua hộ 500.000 đồng ma tuý đá để cả hai cùng sử dụng). Nghe vậy, T hỏi “tiền đâu”, H trả lời “Cứ lấy đi rồi tý có người chuyển khoản cho” nên T đồng ý. Một lúc sau, nhớ ra bản thân đang còn 01 túi ma tuý đá để ở phòng khách nên T quay lại phòng khách lấy ma tuý và dụng cụ sử dụng dưới gầm bàn máy tính lên và nói với H “Tao còn một ít ma tuý giờ sử dụng trước đã, còn tiền chuyển khoản khi nào có mình đi mua sử dụng tiếp”, H nghe vậy thì nói với T “Vậy thì làm đi, hai anh em mình cùng chơi”. T đồng ý nên đổ ma túy đá từ túi zip vào cóng, bật lửa đốt cho sôi ma túy bên trong và cầm bộ cóng vừa đốt đưa cho H sử dụng, H cầm ống hút đưa lên miệng hút một hơi khói ma tuý từ cóng rồi đưa lại ống hút cho T sử dụng. T cầm ống hút đưa lên miệng hút một hơi khói ma tuý từ cóng, sau đó bê cóng và tiếp tục đưa ống hút cho H sử dụng, lần lượt H và T hút mỗi người được khoảng bảy lượt thì hết. Sau khi sử dụng ma túy xong, T cất bộ dụng cụ vừa sử dụng ma tuý xuống dưới gầm bàn máy vi tính ở phòng khách và đi ra phía trước nhà. Lúc này, H ngồi ở phòng khách gọi điện thoại từ số điện thoại 0355.282.xxx của H đến số điện thoại 0389.924.xxx lưu trong danh bạ điện thoại là “Oanh Hòa” (bạn học của con gái H) hỏi mượn 500.000 đồng thì O đồng ý nên H nói sẽ nhắn số tài khoản cho O. H vào mục tin nhắn điện thoại của mình, mở sẵn mục tin nhắn đến số điện thoại của O rồi đưa điện thoại cho T, bảo T nhắn tin số tài khoản của T để O chuyển tiền. T cầm điện thoại của H nhập số tài khoản của T và gửi tin nhắn. Một lúc sau, lực lượng Công an đến phát hiện, tiến hành kiểm tra và thu giữ tang vật theo quy định. Sau khi thu giữ và kiểm tra điện thoại của H, tại mục ứng dụng tin nhắn thể hiện: tin nhắn số tài khoản của T nhắn gửi cho O báo lỗi nên vẫn chưa được gửi đến cho O. Chính vì vậy, O chưa chuyển khoản số tiền 500.000 đồng mà H đã hỏi vay.

    Về nguồn gốc ma túy, Đặng Trung T khai nhận toàn bộ số ma túy H và T sử dụng là của T. Trước đó, T mua của một người phụ nữ không quen biết ở khu vực bãi đất trống gần nhà cạnh cửa hầm đường bộ phía B, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Khi giao dịch chỉ có T và người phụ nữ này, hai bên trao đổi trực tiếp và thanh toán tiền mặt, không có ai khác biết hoặc tham gia.

  2. Cáo trạng số 08/CT-VKS-HT ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo Trịnh Đình H và Đặng Trung T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
  3. Tại phiên tòa:
    1. Các bị cáo thừa nhận hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” như cáo trạng đã truy tố.
    2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
      • - Tuyên bố: các bị cáo Trịnh Đình H và Đặng Trung T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
      • - Áp dụng: khoản 1 Điều 255, Điều 17, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
      • - Xử phạt: bị cáo Trịnh Đình H từ 30 tháng tù đến 33 tháng tù, bị cáo Đặng Trung T từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
      • - Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Trần Thị Thúy H3, Phạm Mạnh H4 và Mai Huy D1 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T; 01 hộp niêm phong bằng giấy màu trắng, kích thước khoảng (7x7x20)cm, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Trần Thị Thúy H3, Phạm Mạnh H4, Mai Huy D1 và các hình dấu cua Phòng K Công an tỉnh T; 01 bật lửa gas màu hòng trên thân một mặt có chữ “Lộc Cô C” và một mặt có chữ “Đắc Tài Đắc Lộc”; 02 ống hút màu trắng dài khoảng 20cm. Trả lại cho bị cáo Trịnh Đình H 01 điện thoại di động có chữ OPPO, màu xanh, màn hình bị nứt vỡ, bên trong lắp sim thuê bao số 0355282987.
      • - Về án phí: buộc các bị cáo, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng với trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. Về tội danh: lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ được và bản kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại nơi ở của Đặng Trung T, số nhà E, Khu H, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Đặng Trung T và Trịnh Đình H đã cùng nhau chuẩn bị chất ma tuý, loại M và dụng cụ để cùng nhau sử dụng đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể.

    Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn truy tố các bị cáo Đặng Trung T và Trịnh Đình H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

  3. Xét tính chất, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt của các bị cáo trong vụ án:

    Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Đây là chất gây nghiện, có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người, là một trong những nguyên nhân chính gây ra các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác.

    Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó Trịnh Đình H là người khởi xướng việc mua chất ma túy để sử dụng, Đặng Trung T là người chuẩn bị ma tuý và dụng cụ để pha chế, sử dụng trái phép chất ma tuý; các bị cáo cùng đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể nhau nên các bị cáo có vai trò ngang nhau.

    Các bị cáo đã từng nhiều lần bị kết án, mặc dù đã đương nhiên được xoá án tích nhưng cũng thể hiện các bị cáo đều có nhân thân xấu.

    Các bị cáo đều không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, các bị cáo đều thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bố đẻ của bị cáo Đặng Trung T là người có công với cách mạng được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, vì vậy cần áp dụng những tình tiết này để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

    Căn cứ vào nhân thân, vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Xét thấy, tuy các bị cáo có vai trò ngang nhau nhưng bị cáo Trịnh Đình H là người khởi xướng, mặt khác bị cáo Đặng Trung T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn bị cáo H nên bị cáo H phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T là phù hợp.

  4. Về hình phạt bổ sung: các bị cáo đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  5. Về các tình tiết khác liên quan trong vụ án:

    Đối với Phạm Thị O, sinh năm 1989, trú tại: xóm E, xã M, huyện V, tỉnh Thanh Hóa là người được H gọi điện hỏi vay số tiền 500.000 đồng và O đã đồng ý cho H vay. Quá trình điều tra xác định, O không biết mục đích H vay để làm gì và thực tế O cũng chưa chuyển tiền cho H. O không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của H nên không có căn cứ để xem xét xử lý đối với O.

    Đối với người phụ nữ bán ma tuý cho T, quá trình điều tra không xác được danh tính của người này nên không có căn cứ để xử lý.

  6. Về xử lý vật chứng:

    Đối với 01 (một) điện thoại di động có chữ Samsung màu đen, bên trong có lắp 02 sim thuê bao số 0912568747 và số [...] thu giữ của bị cáo Đặng Trung T không liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại người được uỷ quyền là phù hợp.

    Đối với 01 (một) bình thuỷ tinh có nắp nhựa màu đen, trên nắp được đục 02 lỗ, một lỗ lắp ống nhựa màu trắng ngả vàng, một lỗ lắp đầu nối thẳng, thân bằng đồng, miệng đầu nối bằng nhựa màu xanh, bên trong bình có chứa khoảng 100ml chất lỏng màu trắng trong đựng trong phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Trần Thị Thúy H3, Phạm Mạnh H4 và Mai Huy D1 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T; 01 (một) cóng thuỷ tinh màu trắng trong, bên trong có bám dính chất màu trắng ở thân cóng, đáy cóng có ám vết cháy màu đen và 01 (một) túi zips màu trắng đựng trong phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Trần Thị Thúy H3, Phạm Mạnh H4 và Mai Huy D1 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T; 01 bật lửa gas màu hồng trên thân một mặt có chữ “Lộc Cô C” và một mặt có chữ “Đắc Tài Đắc Lộc”; 02 ống hút màu trắng dài khoảng 20cm là những vật chứng các bị cáo sử dụng làm dụng cụ để sử dụng ma tuý nên tịch thu tiêu huỷ.

    Đối với 01 điện thoại di động có chữ OPPO bên trong lắp sim thuê bao số 0355282987 là vật chứng bị cáo Trịnh Đình H sử dụng làm phương tiện liên lạc để vay tiền của Phạm Thị O, không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.

  7. Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trịnh Đình H.

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 255; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đặng Trung T.

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Khoản 2, khoản 3 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Tuyên bố: các bị cáo Trịnh Đình H và Đặng Trung T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
  2. Xử phạt:
    • - Bị cáo Trịnh Đình H 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 30/10/2024.
    • - Bị cáo Đặng Trung T 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 30/10/2024.
  3. Xử lý vật chứng:

    Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) bình thuỷ tinh có nắp nhựa màu đen, trên nắp được đục hai lỗ, một lỗ lắp ống nhựa màu trắng ngả vàng, một lỗ lắp đầu nối thẳng, thân bằng đồng, miệng đầu nối bằng nhựa màu xanh, bên trong bình có chứa khoảng 100ml chất lỏng màu trắng trong được đựng trong phong bì niêm phong; 01 (một) cóng thuỷ tinh màu trắng trong, bên trong có bám dính chất màu trắng ở thân cóng, đáy cóng có ám vết cháy màu đen và 01 (một) túi zips màu trắng đựng trong phong bì niêm phong; 01 (một) bật lửa gas; 02 (hai) ống hút.

    Trả lại cho bị cáo Trịnh Đình H: 01 (một) điện thoại di động có chữ OPPO bên trong lắp sim thuê bao số 0355282987.

    Đặc điểm của phong bì niêm phong và vật chứng nêu trên theo Biên bản giao nhận vật chứng số 12/TV-CCTHA ngày 13/01/2005 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã B và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

  4. Án phí: buộc bị cáo Trịnh Đình H và Đặng Trung T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bỉm Sơn;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá;
  • - Cơ quan điều tra Công an thị xã Bỉm Sơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an thị xã Bỉm Sơn;
  • - Nhà tạm giữ Công an thị xã Bỉm Sơn;
  • - Chi cục THADS thị xã Bỉm Sơn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đào Văn Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại nơi ở của Đặng Trung T, số nhà E, Khu H, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Đặng Trung T và Trịnh Đình H đã cùng nhau chuẩn bị chất ma tuý, loại M và dụng cụ để cùng nhau sử dụng đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger