|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày 24 tháng 02 năm 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1 – Ông Nguyễn Văn Quế
2 – Ông Trần Thanh Hải
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Nhung- Chức vụ: Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Thái- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa - tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2025/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Sinh T, tên gọi khác: không; Sinh ngày 22 tháng 9 năm 2006 tại tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT: Số D, tổ F, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Giang; chỗ ở hiện nay: K, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Quang Đ, sinh năm 1981 và Con bà: Nguyễn Thị Ánh D, sinh năm 1981; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: không.
Bị cáo Nguyễn Sinh T bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2024 đến nay. Có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1975
Trú tại: Xóm T, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An.
Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Hồ Văn D1, sinh năm 2001.
Trú tại: Làng Đ, xã N, thị xã T tỉnh Nghệ An;
Tạm trú tại: G, P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh;
Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng:
- +Anh Lê Xuân T1, sinh năm 2006;
- Trú tại: Khối L, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An;
- Vắng mặt.
- +Anh Phan Đình H, sinh năm 2005
- Trú tại: Khối D, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An;
- Vắng mặt.
- +Anh Hồ Minh T2, sinh năm 2003
- Trú tại: Làng Đ, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ an;
- Vắng mặt.
- +Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1990
- Trú tại: Khối Q, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An.
- Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Sinh T là đối tượng lao động tự do, không có công việc làm ổn định. Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, Nguyễn Sinh T nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản. Vào khoảng 11 giờ 00 ngày 28/10/2024, Nguyễn Sinh T một mình đi bộ đến khu vực xóm T, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An thì phát hiện tại nhà anh Lê Văn L1 (trú tại xóm T, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An) mới xây xong, chưa lắp cổng ra vào, tại góc sân có để 01 (một) chiếc mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu xám đen, biển kiểm soát 37H1-50627 và chìa khóa đang cắm sẵn tại ổ khóa xe. Nguyễn Sinh T đi vào trong nhà và gọi "Bác ơi" để xem có ai ở nhà không. Khi không thấy ai trả lời và quan sát xung quanh không thấy ai, Nguyễn Sinh T đã lén lút lấy trộm chiếc xe mô tô và điều khiển xe mô tô đến quán Internet “Tuấn M” thuộc khối B, phường Q, thị xã T. Tại đây, Nguyễn Sinh T gặp Lê Xuân T1 (trú tại khối L, phường Q, thị xã T) và Phan Đình H (trú tại khối D, phường Q, thị xã T). Nguyễn Sinh T nói dối là xe mô tô của bác nhà T vì cần tiền nên nhờ Phan Đình H và Lê Xuân T1 tìm chỗ cầm cố hộ. Vì tin tưởng Nguyễn Sinh T nên Lê Xuân T1 và Phan Đình H đồng ý. Phan Đình H liên lạc và nhờ Hồ Minh T2 (trú tại xóm Làng Đong, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An) tìm chỗ cầm cố chiếc xe. Do Nguyễn Sinh T là người ngoài địa bàn và để dễ tìm người nhận cầm cố nên Phan Đình H đã nhận chiếc xe là của mình, khi Hồ Minh T2 hỏi Phan Đình H nguồn gốc của chiếc xe thì Phan Đình H nói là xe của H, nhưng bị mất giấy chứng nhận đăng ký, rồi chụp ảnh căn cước công dân của H gửi cho Hồ Minh T2 để đảm
bảo. Vì tin tưởng nên Hồ Minh T2 đã liên hệ với Hồ Văn D1 ( trú tại xóm Làng Đong, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An) và T2 nói với D1 có bạn là H cần cầm cố xe chính chủ nhưng bị mất giấy chứng nhận đăng ký xe. Đồng thời T2 gửi căn cước công dân của H cho D1 nên D1 tin tưởng. D1 đồng ý cầm cố chiếc xe trên với số tiền 4.300.000₫ (bốn triệu ba trăm nghìn đồng) trong vòng 01 tháng và không lấy tiền lãi, đồng thời yêu cầu Hồ Minh T2 đưa chiếc xe đó đến gửi trước sân cửa hàng X1 thuộc khối T, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ an thì T2 đồng ý. Do đang đi làm ở xa nên Hồ Văn D1 gọi điện thoại cho chị Nguyễn Thị P (trú tại khối Q, phường H, thị xã T, tỉnh Nghệ An – nhân viên cửa hàng X1) để nhờ gửi một chiếc xe mô tô có đặc điểm nêu trên trước sân của hàng xe mô tô YAMAHA Thành Xuân thì được chị P đồng ý. Sau đó, Phan Đình H cùng với Nguyễn Sinh T đưa chiếc xe mô tô trên đi đến sân của hàng xe mô tô YAMAHA Thành X và gửi cho chị P rồi cả hai người đi về nhà Lê Xuân T1 (khối L, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An). Sau khi chị Nguyễn Thị P xác nhận đã có người đến gửi xe thì Hồ Văn D1 mượn tiền của Trương Thị Đ1 (trú tại xóm M, xã N, huyện N, Nghệ An – là bạn gái của Hồ Văn D1) và sử dụng số tài khoản 1048524341 của ngân hàng V mang tên Trương Thị Đ1 chuyển khoản số tiền 4.300.000đ (bốn triệu ba trăm nghìn đồng) vào tài khoản số 9585169150 ngân hàng V của Hồ Minh T2. Hồ Minh T2 đi rút tiền và đi đến nhà Lê Xuân T1 đưa số tiền 4.300.000₫ (bốn triệu ba trăm nghìn đồng) cho Phan Đình H. Sau đó Phan Đình H đưa toàn bộ số tiền cho Nguyễn Sinh T. Sau khi nhận được tiền, Nguyễn Sinh T đã tiêu xài vào mục đích cá nhân hết.
Sau khi phát hiện bị mất tài sản anh Lê Văn L1 đã làm đơn trình báo với Cơ quan CSĐT công an thị xã T, tỉnh Nghệ An.
Đến ngày 30/10/2024, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nên Nguyễn Sinh T đã đến cơ quan CSĐT Công an thị xã T đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã T: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu xám đen, biển kiểm soát 37H1-65027, đã qua sử dụng (tại thời điểm xảy ra sự việc ngày 28/10/2024) có trị giá là 11.000.000 đồng.
Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 09/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hoà đã truy tố bị cáo Nguyễn Sinh T về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Thái Hoà giữ nguyên quan điểm như đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, b, i khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38 - BLHS tuyên bố bị cáo Nguyễn Sinh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Sinh T từ 06 (sáu) đến 09(chín) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Thái Hoà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Sinh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa, từ đó đã có căn cứ xác định:
Vào khoảng 11 giờ ngày 28/10/2024, tại nhà anh Lê Văn L1 thuộc xóm T, xã N, thị xã T, tỉnh Nghệ An. Lợi dụng sơ hở của anh Lê Văn L1, Nguyễn Sinh T đã lén lút chiếm đoạt của anh L1 một chiếc xe chiếc mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu xám đen, biển kiểm soát 37H1-50627, trị giá 11.000.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Sinh T đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" nên T phải chịu trách nhiệm hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
- Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây tâm lý hoang mang cho người dân trong việc quản lý tài sản của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ nên cần xét xử nghiêm.
- Xét nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thật thà khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả xẩy ra; Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; sau khi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s, b khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 - Bộ luật Hình sự. Nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt.
- Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay xét thấy bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn, thu nhập thấp, không có tài sản gì nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lê Văn L1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt; bị cáo đã cùng với gia đình đã tự nguyện trả lại cho anh Hồ Văn D1 số tiền 4.300.000₫ (Bốn triệu, ba trăm nghìn đồng). Quá trình điều tra không ai có yêu cầu gì về việc bồi thường nên HĐXX không xem xét;
- Về án phí : Cần buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Đối với Lê Xuân T1 và Phan Đình H: Nguyễn Sinh T có nhờ T1 và H tìm chỗ cầm cố hộ chiếc xe do T trộm cắp mà có. H và T1 hoàn toàn không biết chiếc xe mô tô đó Nguyễn Sinh T thực hiện hành vi trộm cắp mà có, nên Phan Đình H và Lê Xuân T1 không phạm tội; Đối với Hồ Minh T2 là người được Phan Đình H nhờ tìm người cầm cố tài sản. Quá trình điều tra xác định Hồ Minh T2 không có hành vi thu lợi từ việc cầm cố tài sản, đồng thời Hồ Minh T2 không biết chiếc xe đó là do Nguyễn Sinh T trộm cắp mà có nên Hồ Minh T2 không phạm tội; Đối với Hồ Văn D1 là người được Hồ Minh T2 nhờ cầm cố chiếc xe giúp Phan Đình H. Do Phan Đình H cam kết là chủ sở hữu chiếc xe nên Hồ Văn D1 tin tưởng nhận cầm cố chiếc xe với số tiền 4.300.000 đồng. Quá trình điều tra xác định Hồ Văn D1 không có hành vi thu lợi từ việc cầm cố tài sản, đồng thời Hồ Văn D1 cũng không biết chiếc xe nêu trên là do đối tượng Nguyễn Sinh T trộm cắp mà có nên Hồ Văn D1 không phạm tội; Đối với Nguyễn Thị P là người được Hồ Văn D1 nhờ gửi xe tại cửa hàng xe mô tô YAMAHA T. Quá trình điều tra xác định Nguyễn Thị P không biết chiếc xe là do Nguyễn Sinh T thực hiện hành vi trộm cắp mà có nên Nguyễn Thị P không phạm tội.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38- Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Sinh T 06 (sáu) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 30/10/2024.
Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án (kèm theo danh mục án phí, lệ phí Toà án). Buộc bị cáo Nguyễn Sinh T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ an trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ an trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hà |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ - TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HOÀ - TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Hình sự Nguyễn Sinh T - Trộm cắp tài sản
