Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST

Ngày 24/02/2025

“V/v Xác định cha cho con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: bà Trịnh Thị Huệ và ông Bùi Đăng Triệu.

Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Phạm Thu Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 164/2024/TLST-HNGĐ ngày 05/12/2024 về việc “Xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/02/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Hoàng Thị L thường trú: thôn L, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội Vắng mặt, có đơn xin xử án vắng mặt.

Bị đơn: anh Đoàn Tiến M thường trú: tổ A, khu L, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh Vắng mặt, có đơn xin xử án vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Trần Yên H; nơi thường trú: tổ E, khu N, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn xin xử án vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn chị Hoàng Thị L1 trình bày: chị và anh Đoàn Tiến M1 có quan hệ nam nữ từ năm 2017, lúc đó chị và anh Trần Yên H vẫn trong giai đoạn hôn nhân nhưng đã sống ly thân (ly thân từ năm 2015, 2016). Chị có thai và sinh ra 01 con gái theo Giấy chứng sinh số 13 quyển số 2 ngày 17/02/2018 của Bệnh viện Đ. Ngày 04/5/2021, chị và anh Trần Yên H ly hôn theo Quyết định công nhận kết quả hoà giải thành tại Toà án số 02/2021/QĐCNHGT-HNGĐ của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Con gái chị sinh từ ngày 17/02/2018 tuy nhiên cho đến nay chị vẫn chưa làm được giấy khai sinh cho cháu vì cháu được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của chị với anh H. Anh Đoàn Tiến M1 cũng đã đưa cháu Đoàn Ánh V (tên tạm đặt khi giám định ADN) đi giám định ADN tại Phòng khám Đ1; địa chỉ: số B D, quận C, thành phố Hà Nội. Tại kết quả phân tích ADN huyết thống xác định: anh Đoàn Tiến M1 có quan hệ huyết thống Cha – Con gái với cháu Đoàn Ánh V. Chị L1 thừa nhận kết quả giám định ADN trên và xác định cháu Đoàn Ánh V không phải con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của chị và anh Trần Yên H. Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của con và để cháu bé được đăng ký khai sinh, chị đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xác định anh Đoàn Tiến M1 là cha đẻ của cháu Đoàn Ánh V, sinh ngày 17/02/2018 do chị sinh ra theo giấy chứng sinh số 13, quyển số 02 của Bệnh viện Đ.

* Tại bản tự khai anh Đoàn Tiến M1 trình bày: trước đây anh và chị Hoàng Thị L1 có quan hệ tình cảm với nhau. Chị L1 có thai với anh trong thời kỳ hôn nhân giữa chị L1 và anh Trần Yên H còn tồn tại nhưng họ đã sống ly thân. Sau khi chị L1 và anh H ly hôn, để xác định con gái do chị L1 sinh ra có phải con mình hay không anh đã đưa cháu đi xác định ADN. Tại kết quả phân tích ADN huyết thống của Phòng khám Đ1; địa chỉ: số B D, quận C, thành phố Hà Nội ngày 09/7/2024 anh xác định chính xác cháu là Đoàn Ánh V và anh có quan hệ huyết thống là C - Con gái và anh thừa nhận kết quả giám định ADN trên. Đến nay chị L1 làm đơn khởi kiện để xác định anh là cha đẻ của cháu Đoàn Ánh V (tên tạm đặt khi giám định ADN), sinh ngày 17/02/2018 theo giấy dự sinh số 13 quyển 2 của Bệnh viện Đ là con gái đẻ của anh, anh hoàn toàn nhất trí.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Trần Yên H đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H vắng mặt tại các buổi làm việc và sau đó có đơn đề nghị quải quyết và xét xử án vắng mặt thể hiện quan điểm: anh kết hôn với chị Hoàng Thị L1 năm 2007, quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn nên chị L1 đã bỏ đi nơi khác sinh sống, hai bên sống ly thân từ khoảng năm 2015, 2016 cho đến khi ly hôn năm 2021. Anh được biết, trong thời gian anh và chị L1 sống ly thân, chị L1 quan hệ tình cảm với người khác và sinh 01 con vào năm 2018, cháu bé là con ai anh không biết. Nay chị L1 yêu cầu Toà án xác định anh Đoàn Tiến M1 là cha đẻ của cháu bé trên anh không có ý kiến gì, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả có ý kiến: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng quan hệ tranh chấp và áp dụng các quy định của pháp luật giải quyết vụ án chính xác. Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, căn cứ Điều 89, Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình; đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hoàng Thị L1, xác định anh Đoàn Tiến M1 là cha đẻ của cháu Đoàn Ánh V (tên tạm đặt khi giám định ADN), sinh ngày 17/02/2018, xác định cháu V không phải là con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Hoàng Thị L1 và anh Trần Yên H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: chị Hoàng Thị L1 khởi kiện yêu cầu xác định cha cho con với bị đơn là anh Đoàn Tiến M1 hiện cư trú tại địa bàn thành phố C nên Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả thụ lý giải quyết với quan hệ pháp luật “Xác định cha cho con” là đúng quy định tại khoản 4 Điều 28 và các Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều đã được nhận các văn bản tố tụng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử, các đương sự đều có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

* Về quan tranh chấp: xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: quá trình giải quyết vụ án chị Hoàng Thị L1, anh Đoàn Tiến M1, anh Trần Yên H đều khẳng định trước đây chị L1 và anh H là vợ chồng, trong quá trình chị L1 và anh H sống ly thân, chị L1 có quan hệ tình cảm với anh M1 dẫn đến có thai trong khi chưa ly hôn với anh H. Đến năm 2021, chị L1 và anh H ly hôn, tại Quyết định công nhận kết quả hoà giải thành tại Toà án số 02/2021/QĐCNHGT-HNGĐ ngày 04/5/2021 của Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả đã công nhận sự thuận tình ly hôn của chị L1 và anh H. Chị L1 sinh con vào ngày 17/02/2018 trong thời kỳ hôn nhân giữa chị L1 với anh H tuy nhiên tại kết quả phân tích ADN huyết thống của Phòng khám Đ1 ngày 09/7/2024 xác định cháu là Đoàn Ánh V (tên con gái chị L1 tạm đặt khi đi giám định ADN) theo Giấy chứng sinh số 13, quyển số 02 của Bệnh viện Đ và anh M1 có quan hệ huyết thống là C - Con gái. Anh H xác định cháu Đoàn Ánh V không phải là con anh.

Chị L1 và anh M1 đều thừa nhận kết quả giám định ADN của Phòng khám Đ1 và không yêu cầu giám định lại nên đây thuộc tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Từ những đánh giá phân tích như đã nêu trên, căn cứ vào quy định tại Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L1; phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, xác định anh Đoàn Tiến M1 là cha đẻ của cháu Đoàn Ánh V, sinh ngày 17/02/2018; xác định cháu Đoàn Ánh V không phải là con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa anh Trần Yên H và chị Hoàng Thị L1 theo quy định tại Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về án phí: vụ án này thuộc trường hợp được miễn tiền án phí theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;Căn cứ Điều 89, Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L1: xác định anh Đoàn Tiến M1; sinh năm 1991; trú tại: tổ A, khu L, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh là cha đẻ của cháu Đoàn Ánh V (tên theo Kết quả phân tích ADN huyết thống ngày 09/7/2024 của Phòng khám Đ1), sinh ngày 17/02/2018, theo Giấy chứng sinh số 13, quyển số 02 của Bệnh viện Đ.

Anh Đoàn Tiến M1 và chị Hoàng Thị L1 có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu Đoàn Ánh V (tên theo Kết quả phân tích ADN huyết thống ngày 09/7/2024 của Phòng khám Đ1), sinh ngày 17/02/2018, theo Giấy chứng sinh số 13, quyển số 02 của Bệnh viện Đ theo quy định của pháp luật.

  1. Về án phí: đương sự được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt các đương sự, các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Cẩm Phả;
  • - Chi cục THADS thành phố Cẩm Phả;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA – VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên và đóng dấu)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH về xác định cha cho con

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xác định cha cho con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xác định cha cho con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger