Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HSPT

Ngày: 24-02-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Anh

Các Thẩm phán: Ông Đào Anh Đức

Bà Đào Thị Thu Thuỷ

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Thiều Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/HSPT ngày 02/01/2025 đối với bị cáo Lê Chí D, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HSST ngày 27/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá.

* Bị cáo kháng cáo:

Lê Chí D, sinh ngày 10/10/1989 tại xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...];

Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Chí H1, sinh năm 1965; Con bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1968; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con đầu; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Y; Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Trần Văn M, sinh năm 1988

Nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

Trong vụ án có bị cáo Trần Văn M không kháng cáo; không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 16/5/2024, Lê Chí D đang ở nhà thì được con trai là cháu Lê Chí D1, sinh năm 2013 về nhà kể lại là bị cháu Trần Văn M1, sinh năm 2011 và cháu Trần Thị H2, sinh năm 2013 (đều là con của Trần Văn M) đánh bằng tay, chân tại sân bóng nhà thờ T1, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nghe vậy, D từ nhà đến sân bóng gặp cháu M1 hỏi chuyện và dùng tay tát, đánh vào người cháu M1 hai cái, sau đó tiếp tục đi tìm cháu H2 thì gặp Trần Văn M đang đứng ở cổng nhà thờ T1. Lúc này, D hỏi M là cháu H2 đang ở đâu và nói cho M biết việc các cháu M1, H2 vừa đánh cháu D1 rồi D tiếp tục đi tìm cháu H2. Sau đó cháu M1 từ sân bóng chạy ra nói với M về việc bị D đánh thì M điều khiển xe máy chở cháu M1 đi về nhà ở tại thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Đến đoạn đường tỉnh lộ 505 trước nhà mình, M thấy D đang ở đấy. Tại đây hai bên chửi bới, thách thức đánh nhau. Trần Văn M mở cốp xe máy của mình lấy một bình xịt hơi cay và một con dao gọt hoa quả cầm trên hai tay, D nhặt một nửa viên gạch cốm cầm trên tay và hai bên tiếp tục thách thức đánh nhau. M dơ bình lên xịt hơi cay về phía Dương 2 - 3 phát, D thách thức M bỏ vũ khí ra đánh nhau tay không và ném viên gạch cốm xuống đường. Lúc này M cầm dao gọt hoa quả lùa đuổi D thì D chạy đi. M đi bộ quay về sân bảo cháu M1 đi vào nhà lấy con dao chặt cây ở dưới bếp ra đưa cho M. Lúc này hai bên vẫn chửi bới, thách thức nhau. M cầm con dao chặt cây ra đuổi D khoảng 15m thì không đuổi nữa và đi quay lại thì D nhặt được một đoạn gậy tre bên đường cầm trên tay đi quay lại chỗ M thì đồng thời lúc này M và D đều áp sát lại và lao vào đánh nhau. M dùng dao chém hai nhát trúng vào hai bên hông của D. Dương cầm gậy bỏ chạy thì M đuổi theo. D quay người lại cầm gậy bằng hai tay đập từ trên xuống dưới. M dơ tay trái lên đỡ thì bị đập trúng vào cẳng tay trái, sau đó M túm giữ được gậy của D và dùng dao chém một phát vào vai trái của D. Hai bên ôm nhau giằng co và vật nhau xuống đường. Lúc này có một số người cùng thôn vào can ngăn, lấy con dao trên tay của M ra ngoài, hai bên vật lộn giằng co nhau một lúc thì được mọi người can ngăn ra. Hậu quả Lê Chí D và Trần Văn M đều bị thương tích phải điều trị tại Bệnh viện.

- Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 28/5/2024 của Lê Chí D tại Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa phát hiện các dấu vết trên thân thể như sau:

  • + 01 (một) vết thương rách da kích thước (11x0,1)cm, vết thương đã được khâu y tế 06 mũi tại vị trí vai bên trái. Bờ mép vết thương sắc gọn.
  • + 01 (một) vết thương rách da, kích thước (06x0,1)cm, vết thương đã được khâu y tế 06 mũi, vết thương hình bán nguyệt tại vị trí hông bên trái. Bờ mép vết thương sắc gọn.
  • + 01 (một) vết thương rách da kích thước (2x0,1)cm đã được khâu y tế 03 mũi tại vị trí hông bên phải. Bờ mép vết thương sắc gọn.

- Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 31/5/2024 của Trần Văn M tại Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa phát hiện các dấu vết trên thân thể như sau:

  • + 01 (một) vết sẹo mổ kích thước 11 x 1,2cm tại mặt ngoài cẳng tay trái.
  • + 01 (một) vết sẹo kích thước 01 x 0,5cm tại mặt ngoài cẳng tay trái.
  • + 01 (một) vết xước da kích thước 1,3 x 0,5cm tại ngón cái bàn chân phải.

- Vật chứng thu giữ gồm:

  • + 01 con dao có tổng chiều dài 64cm, có cán bằng gỗ hai đầu bọc kim loại dài 15,5cm, mũi dao nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao rộng 4,7cm.
  • + 01 con dao có tổng chiều dài 29cm, có cán bằng nhựa dài 09cm, mũi dao nhọn, phần rộng nhất của dưỡi dao rộng 3,7cm.
  • + 01 bình kim loại hình trụ tròn dài 20cm, đường kính 6,5cm, màu đen, trên thân bình có dòng chữ “TAKE DOWN”.
  • + 01 đoạn gậy tre kích thước 120x04cm.

- Ngày 10/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ C giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Lê Chí D.

Tại bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 4381/KL-KTHS ngày 20/6/2024 của V - Bộ C đối với anh Lê Chí D kết luận: Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Lê Chí D tại thời điểm giám định là: 12% (mười hai phần trăm).

- Ngày 21/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ C giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Trần Văn M.

Tại bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 4710/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của V - Bộ C đối với anh Trần Văn M kết luận: Áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trần Văn M tại thời điểm giám định là: 10% (mười phần trăm).

- Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã trưng cầu giám định bình kim loại hình trụ tròn dài 20 cm, đường kính 6,5 cm, màu đen, trên thân bình có dòng chữ "TAKE DOWN' của Trần Văn M tại Phòng K Công an tỉnh T.

Tại Kết luận giám định số 2527/KL-KTHS ngày 05/7/2024 kết luận: 01 (một) bình có kí hiệu "TAKE DOWN OC 5.5 FOGGER OC PEPPER SPRAY" gửi giám định là bình xịt hơi cay, thuộc loại công cụ hỗ trợ, hiện tại còn sử dụng được.

- Quá trình điều tra, truy tố, Trần Văn M và Lê Chí D đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, lời khai của M và D là phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

- Đối với cháu Lê Chí D1 bị cháu Trần Văn M1 đánh bằng tay chân, cháu D1 không có thương tích gì, mặt khác người giám hộ, đại diện cho cháu là chị Nguyễn Thị Y có đơn từ chối giám định thương tích của cháu D1, ngoài ra cháu M1 chưa đủ 14 tuổi, do đó không xem xét xử lý hành vi của cháu M1.

- Đối với cháu Trần Văn M1 bị Lê Chí D đánh bằng tay, cháu M1 không có thương tích gì, chị Hoàng Thị M2 là người giám hộ, đại diện cho cháu có đơn từ chối giám định thương tích cho cháu M1.

Hành vi của Lê Chí D đối với cháu M1 là hành vi Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự đã vi phạm quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ thuộc thẩm quyền xử phạt của Trưởng Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa, Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã đề nghị Trưởng Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định xử phạt theo quy định pháp luật.

- Việc Trần Văn M sử dụng bình xịt hơi cay trong vụ án là hành vi Sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ, vi phạm quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 11 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND huyện N, tỉnh Thanh Hóa Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã đề nghị Chủ tịch UBND huyện N, tỉnh Thanh Hóa ra Quyết định xử phạt theo quy định pháp luật.

- Đối với 01 con dao có tổng chiều dài 64cm, có cán bằng gỗ hai đầu bọc kim loại dài 15,5cm, mũi dao nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao rộng 4,7cm; 01 con dao có tổng chiều dài 29cm, có cán bằng nhựa dài 09cm, mũi dao nhọn, phần rộng nhất của dưỡi dao rộng 3,7cm; 01 bình kim loại hình trụ tròn dài 20cm, đường kính 6,5cm, màu đen, trên thân bình có dòng chữ “TAKE DOWN"; 01 đoạn gậy tre kích thước 120x04cm (là các công cụ, hung khí mà Trần Văn M và Lê Chí D sử dụng để gây thương tích trong vụ án) đã chuyển từ kho vật chứng của Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa bảo quản, chờ xử lý.

Phần dân sự và yêu cầu của bị hại:

  • + Về yêu cầu của Trần Văn M: có đơn yêu cầu đề nghị khởi tố đối với Lê Chí D theo quy định pháp luật.
  • + Lê Chí D yêu cầu Trần Văn M bồi thường chi phí điều trị, mua thuốc, tổn thất thu nhập trong khi nằm viện, bồi thường tổn hại sức khoẻ và tổn hại tinh thần với tổng số tiền là 88.700.000 đồng (T mươi tám triệu bảy trăm nghìn đồng)
  • + Trần Văn M yêu cầu Lê Chí D bồi thường chi phí điều trị, mua thuốc, tổn thất thu nhập trong khi nằm viện, bồi thường tổn hại sức khoẻ và tổn hại tinh thần với tổng số tiền 173.324.293 đồng (Một trăm bảy ba triệu ba trăm hai tư nghìn hai trăm chín mươi ba đồng).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HSST ngày 27/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá đã quyết định:

Tuyên bố: Trần Văn M và Lê Chí D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Trần Văn M 28 (hai mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (10/7/2024).

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Lê Chí D 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Án sơ thẩm còn quyết định về tang vật trong vụ án, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của bị cáo.

Sau khi xét xử, bị cáo Lê Chí D làm đơn kháng cáo bản án với nội dung: Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Lê Chí D công nhận hành vi phạm tội như quyết định của cấp sơ thẩm đối với bị cáo là đúng và giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Chí D;

Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm 67/2024/HSST ngày 27/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá đối với bị cáo Lê Chí D; Giữ nguyên hình phạt 18 tháng tù nhưng cho bị cáo D được hưởng án treo, ấn định thời gian thửa thách theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong thời hạn luật định, nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo:

- Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Chiều ngày 16/5/2024, tại khu vực thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, do mâu thuẫn đánh nhau giữa con của Trần Văn M và con của Lê Chí D dẫn đến việc Lê Chí D dùng tay đánh con của Trần Văn M. Khi được con của mình báo cho biết việc bị Lê Chí D đánh nên M đã đi tìm D, khi gặp nhau cả hai thách thức, chửi mắng và đánh nhau. Trần Văn M dùng một con dao chém Lê Chí D gây nên một vết thương rách da khâu 06 mũi tại vai bên trái; một vết thương rách da khâu 06 mũi tại hông trái; một vết thương rách da khâu 03 mũi tại hông bên phải làm tổn hại 12% sức khỏe cho Lê Chí D.

Lê Chí D dùng gậy tre đánh Trần Văn M làm gãy 1/3 giữa xương trụ tay trái và tổn thương ngón I bàn chân phải làm tổn hại 10% sức khỏe cho Trần Văn M.

Với hành vi trên, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Chí D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 và Trần Văn M về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo D chỉ kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo.

- Xét kháng cáo của bị cáo:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo D có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thuộc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tại giai đoạn phúc thẩm,

Bị cáo D giao nộp cho Tòa án thêm tình tiết giảm nhẹ mới đó là: Bị cáo có đơn xin xác nhận hoàn cảnh khoá khăn và xin được hưởng án treo có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú; Bị cáo tham gia ủng hộ quỹ nạn nhân chất độc màu da cam của Hội chữ thập đỏ xã C. Bị cáo đã tự nguyện nộp tiền án phí sơ thẩm. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo phạm tội do có lỗi của bị hại. Bị cáo cũng là bị hại trong vụ án, bị tổn hại 12% sức khoẻ. Hai bên đã đối trừ các chi phí điều trị bệnh cho nhau và không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ mới. Chính quyền nơi bị cáo cư trú cũng xác nhận cho bị cáo xin được hưởng án treo. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Điều 1 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để được hưởng án treo nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền nơi cư trú cũng đủ sức giáo dục, cải tạo đối với bị cáo.

Do đó chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tại phiên toà là có căn cứ.

[3] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tuy nhiên trong vụ án này, bị cáo Trần Văn M và bị cáo Lê Chí D ngoài tư cách bị cáo ra thì các bị cáo còn có tư cách là bị hại trong vụ án. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HSST ngày 27/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá không xác định bị hại trong vụ án là vi phạm quy định tại Điều 62; Điều 260; Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự và Mẫu số 27-HS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP ngày 19 tháng 9 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao). Từ đó trong bản án không tuyên quyền kháng cáo cho bị hại nhưng do không có kháng cáo về phần này, Viện kiểm sát không kháng nghị nên Hội đồng xét xử chỉ nhắc nhở để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm trong các vụ án tương tự.

[4] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Lê Chí D không phải chịu án phí phúc thẩm vì kháng cáo được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Chí D.

    Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2024/HSST ngày 27/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá.

  2. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

    Tuyên bố bị cáo Lê Chí D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    - Xử phạt Lê Chí D 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Giao bị cáo Lê Chí D cho UBND xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68; Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

  1. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Lê Chí D đã nộp xong số tiền 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0002872 ngày 24/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá.
  2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Chí D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.

Nơi gửi:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - P7 VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND huyện Nông Cống;
  • - VKSND huyện Nông Cống;
  • - Chi cục THADS huyện N;
  • - Cơ quan CSĐT, THAHS huyện N;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Trương Thị A

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HSPT ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 11/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger