TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 11/2025/DSST Ngày 21 - 02-2025 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Hải Yến
Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hiểu
Bà Tô Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phí Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2024/TLST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐ - ST ngày 08 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ
Địa chỉ: A P, phường C, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T, Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Phạm Thanh P – Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng TMCP Đ (Quyết định số 163/QĐ-DAB-HĐQT-PC ngày 08/8/2022).
Người được uỷ quyền lại: Bà Nguyễn Thu H – cán bộ ngân hàng TMCP Đ - P1.
- Bị đơn: Anh Trần Văn C, sinh năm 1980 và chị Vũ Thị T1, sinh năm 1983; đều trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Xuân T2, sinh năm 1960 (vắng mặt)
- Anh Trần Văn H1, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Đều trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, người đại diện cho nguyên đơn trình bày:
Ngày 29/09/2023, giữa Ngân hàng TMCP Đ (sau đây gọi là Ngân hàng) và anh Trần Văn C, chị Vũ Thị T1 ký Hợp đồng tín dụng số K.0566/123, theo đó Ngân hàng đồng ý cho anh C, chị T1 vay số tiền 380.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh thiết bị vệ sinh; lãi suất trong hạn cho 3 tháng đầu tiền 10,8%/năm; lãi suất vay được điều chỉnh định kỳ vào ngày 20 hàng tháng; Lãi suất điều chỉnh kỳ tiếp theo bằng lãi suất cơ sở cộng với biên độ (3,5%/năm); Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn đang áp dụng tại thời điểm phát sinh nợ quá hạn. Ngày 29/9/2023, anh C, chị T1 đã thực hiện việc ký giấy nhận nợ tại Ngân hàng, ngân hàng đã giao đủ số tiền 380.000.000 đồng vào tài khoản số 103.1155.422 của bà Đinh Thị Q tại Ngân hàng N.
Để đảm bảo cho khoản vay, anh C, chị T1 đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0215/TC23 ngày 18/4/2023, thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 464, tờ bản đồ số 18, diện tích 372,7m² tại thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DI932406 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 14/02/2023 mang tên anh Trần Văn C, chị Vũ Thị T1.
Quá trình thực hiện hợp đồng, anh C, chị T1 đã trả tiền gốc được 15.100.000 đồng (lần 1 trả ngày 26/9/2024 số tiền 10.000.000 đồng, lần 2 trả ngày 23/01/2025 số tiền 5.100.000 đồng); trả lãi đến tháng 6/2024, sau đó anh C, chị T1 không trả tiền lãi. Đến ngày 26/9/2024 Ngân hàng chuyển toàn bộ nợ gốc sang nợ quá hạn thuộc nhóm 2; ngày 20/01/2025 chuyển sang nợ quá hạn nhóm 3.
Nay Ngân hàng yêu cầu anh Trần Văn C, chị Vũ Thị T1 phải thanh toán trả cho Ngân hàng tính ngày xét xử sơ thẩm là 401.104.084 đồng, trong đó nợ gốc 364.900.000 đồng; lãi trong hạn: 11.504.110 đồng; lãi quá hạn 24.699.974 và lãi phát sinh.
Trường hợp anh Trần Văn C, chị Vũ Thị T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ.
Trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì yêu cầu anh C, chị T1 tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi thực hiện thanh lý khoản vay.
Bị đơn anh Trần Văn C trình bày:
Ngày 29/9/2023 vợ chồng anh có ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP Đ để vay số tiền gốc là 380.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay để góp vốn làm ăn, vợ chồng anh có thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản xây dựng trên thửa đất số 464, tờ bản đồ số 18, diện tích 372,7m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 932406 ngày 14/02/2023 mang tên Trần Văn C, Vũ Thị T1. Sau khi vay, gia đình anh vẫn trả lãi cho ngân hàng, từ tháng 7/2024 do điều kiện khó khăn, công ty nợ lương nên không trả lãi cho ngân hàng, đến tháng 11/2024 gia đình anh lại tiếp tục trả ngân hàng số tiền 10.000.000 đồng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh phải trả tiền gốc và lãi, anh có ý kiến hiện hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho vạy lại số tiền gốc và cam kết sẽ thanh toán đầy đủ tiền lãi.
Chị Vũ Thị T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Toà án trình bày ý kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Văn T3 trình bày: ông là bố đẻ của anh Trần Văn C, thửa đất nhà anh C là do vợ chồng ông cho vợ chồng anh C, chị T1 năm 2023 và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, toàn bộ tài sản trên đất là do anh C, chị T1 xây dựng, chỉ có một phần diện tích của gian bếp cũ, 1 bể nước mưa đã cũ của vợ chồng ông nằm trên phần diện tích đất mà vợ chồng ông cắt cho vợ chồng anh C, chị T1. Đến nay phần diện tích bếp và bể nước xây dựng đã lâu, nếu xử lý nhà đất của anh C, chị T1 thì ông không có đề nghị việc thanh toán giá trị đối với các tài sản trên, ông đề nghị Toà án không đưa ông vào tham gia tố tụng.
- Anh Trần Văn H1 trình bày: anh là em trai anh Trần Văn C, diện tích đất mà vợ chồng anh C đang sử dụng là do bố anh cho từ năm 2023, các tài sản trên đất là do vợ chồng anh C, chị T1 xây dựng, chỉ có một phần diện tích mái tôn do anh làm từ năm 2022 nằm trên phần diện tích đất bố anh đã cho anh C, trường hợp Toà án tuyên phát mại đối với nhà đất của anh C, chị T1 thì anh sẽ tự nguyện tháo dỡ phần mái tôn nằm trên phần diện tích đất của anh C và không có đề nghị bồi thường. Anh H1 đề nghị Toà án không đưa anh vào tham gia tố tụng.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ:
Thửa đất số 464, tờ bản đồ số 18, diện tích 372,7m², trong đó có 200m² đất ở, 172,7m² đất trồng cây lâu năm, nguồn gốc được tặng cho; tài sản trên đất gồm: 01 nhà mái bằng, 01 công trình phụ khép kín, 01 nhà tôn; giáp ranh giữa nhà anh C, chị T1 với nhà ông Trần Xuân T2 (bố đẻ anh C) có 2,8m² gian bếp cũ của ông T2 và 13,4m² mái tôn của anh Trần Văn H1 nằm trên phần diện tích đất của thửa 464.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải phát biểu ý kiến:
- + Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ theo quy định của pháp luật.
- + Về nội dung: áp dụng các Điều 26, 147 BLTTDS, Điều 463, 466 BLDS, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng:
- Buộc anh Trần Văn C, chị Vũ Thị T1 phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc, tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi phát sinh. Nếu anh C, chị T1 không trả thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0215/TC23 ngày 18/4/2023 giữa anh C, chị T1 với Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Đây là tranh chấp liên quan đến Hợp đồng tín dụng, bị đơn cư trú tại xã Đ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Tiền Hải. Bị đơn anh Trần Văn C, chị Vũ Thị T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Xuân T2, anh Trần Văn H1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 vẫn vắng mặt, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt đối với họ.
- [2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử thấy:
- [2.1] Hợp đồng tín dụng số K.0566/123 ngày 29/9/2023 được ký giữa Ngân hàng với anh C, chị T1 trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch này có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên. Sau khi ký kết hợp đồng, ngày 29/9/2023, anh C, chị T1 có ký Bảng kê rút vốn kiêm nhận vay nợ, nội dung đề nghị rút vốn vay số tiền 380.000.000 đồng, chuyển vào tài khoản của bà Đinh Thị Q, số tài khoản 103.1155.422 Ngân hàng V và đã được Ngân hàng đồng ý. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh C, chị T1 đã trả 15.100.000 đồng nợ gốc, về nợ lãi đã trả đến tháng 6/2024, do anh C, chị T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên từ ngày 26/9/2024 Ngân hàng chuyển toàn bộ nợ gốc sang nợ quá hạn thuộc nhóm 2; ngày 20/01/2025 chuyển sang nợ quá hạn nhóm 3. Tính đến ngày 21/02/2025, anh C, chị T1 còn nợ Ngân hàng số tiền 401.104.084 đồng, trong đó nợ gốc là 364.900.000 đồng, nợ lãi trong hạn 11.504.110 đồng, lãi quá hạn 24.699.974 đồng, anh C thừa nhận toàn bộ khoản nợ trên nhưng do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đề nghị Ngân hàng cho vay lại khoản nợ gốc và cam kết trả lãi đầy đủ. Như vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng.
- [2.2] Về lãi suất: Đối với khoản tiền lãi của Hợp đồng tín dụng số K.0566/123 ngày 29/9/2023; Hội đồng xét xử thấy: Đối với lãi trong hạn và lãi quá hạn các bên thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, do đó cần chấp nhận.
- [2.3] Về hợp đồng thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay, giữa Ngân hàng và anh Trần Văn C, chị Vũ Thị T1 đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0215/TC23 ngày 18/4/2023, thế chấp quyền sử dụng thửa đất số 464, tờ bản đồ số 18, diện tích 372,7m² tại thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DI932406 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 14/02/2023 mang tên anh Trần Văn C, chị Vũ Thị T1. Hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai huyện T vào ngày 18/4/2023. Tại Điều 4 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất xác định nghĩa vụ trả nợ được đảm bảo: “Giá trị các khoản tín dụng tối đa mà Ngân hàng cho bên được cấp tín dụng tại thời điểm ký kết hợp đồng này được xác định theo giá trị của tài sản thế chấp nêu tại điều 3 của hợp đồng thế chấp, trong đó bao gồm cả HĐTD số K.0215/123 ngày 18/4/2023 và các văn bản thoả thuận cấp tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng và bên được cấp tín dụng trong khoảng thời gian 5 năm kể từ ngày 18/4/2023....”. Hợp đồng tín dụng số K.0566/123 ngày 29/9/2023 được ký kết trong khoảng thời gian nêu trên nên được đảm bảo bằng tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất theo Hợp đồng thế chấp số K.0215/TC23 ngày 18/4/2023. Xét thấy: Hợp đồng thế chấp tuân thủ đúng quy định pháp luật về mặt nội dung cũng như hình thức nên Ngân hàng hoàn toàn có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp nếu anh C, chị T1 không trả nợ, do đó cần chấp nhận. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, trên diện tích thửa đất mà anh C, chị T1 thế chấp với Ngân hàng có 2,8m² nhà bếp cũ của ông T2 (bố đẻ anh C và 13,4m² mái tôn của anh H1 (em trai anh C). Ông T2 và anh H1 sẽ tự nguyện tháo dỡ và không có yêu cầu về bồi thường nếu Ngân hàng phát mại đối với tài sản này. Đây là sự tự nguyện của ông T2 và anh H1 vì vậy cần ghi nhận. Trường hợp ông T2, anh H1 không tự nguyện tháo dỡ thì sẽ bị cưỡng chế khi phát mại tài sản.
- [3] Từ những phân tích trên có cơ sở để chấp nhận toàn bộ phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- [4] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên anh C, chị T1 phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại. Ngân hàng đã thanh toán số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 7.000.000 đồng, chị T1, anh C có trách nhiệm thanh toán trả Ngân hàng.
- [5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí, trả lại nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp. Anh Trần Văn C, chị Vũ Thị T1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 157; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 293; Điều 298; Điều 299; Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí phí Toà án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ:
- Buộc anh Trần Văn C và chị Vũ Thị T1 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Đ theo Hợp đồng tín dụng số K.0566/123 ngày 29/9/2023 tổng số tiền 401.104.084 đồng; trong đó, nợ gốc là 364.900.000 đồng; lãi trong hạn 11.504.110 đồng; Lãi quá hạn: 24.699.974 đồng.
- Trường hợp anh C, chị T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ, tài sản thế chấp là quyền sử dụng thửa đất số 464, tờ bản đồ số 18, diện tích 372,7m² tại thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DI932406 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 14/02/2023 mang tên Trần Văn C và Vũ Thị T1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số K.0215/TC23 ngày 18/4/2023. Trường hợp số tiền thu được sau khi phát mại tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bị đơn vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ ngân hàng cho đến khi tất toán.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Xuân T2 tháo dỡ 2,8m² nhà bếp cũ, anh Trần Văn H1 tháo dỡ 13,4m² mái tôn nằm trên phần diện tích của thửa đất số 464, tờ bản đồ số 18 nêu trên và không có yêu cầu bồi thường gì. Trường hợp ông T2, anh H1 không tự nguyện tháo dỡ thì sẽ bị cưỡng chế khi phát mại tài sản.
- Về chi phí tố tụng: Anh Trần Văn C và chị Vũ Thị T1 phải thanh toán trả cho Ngân hàng Đ 7.000.000 (bảy triệu) đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
- Về án phí: Anh Trần Văn C và chị Vũ Thị T1 phải chịu 20.044.163 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng TMCP Đ không phải chịu án phí, trả lại Ngân hàng 9.700.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0002807 ngày 25/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Vũ Thị T1, anh Trần Văn C, ông Trần Xuân T2, anh Trần Văn H1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lương Hải Yến |
Bản án số 11/2025/DSST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 11/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Đ - Trần Văn C, Vũ Thị T1: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
