|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày: 21/02/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bạch Hưng Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Thùy Linh – Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Minh Châu, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Ông Nguyễn Văn Dũng – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Lê Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại phòng xử án Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Ngô Văn T, (tên gọi khác: Không); sinh năm 1996 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm F, xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn T1 (đã chết) và bà Phan Thị X; có vợ là Trần Thị H và 01 con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 15/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 02/9/2021.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2024 đến nay (có mặt).
2. Họ và tên: Hoàng Văn T2, (tên gọi khác: Không); sinh ngày 10 tháng 10 năm 2008 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm G, xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn H1 và bà Nguyễn Thị P; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2024 đến nay (có mặt).
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Hoàng Văn T2: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1971 - Là mẹ đẻ của bị cáo; trú tại: Xóm G, xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An (có mặt).
- Người bào chữa cho các bị cáo Hoàng Văn T2: Bà Phan Thị T3 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N, Chi nhánh S (có mặt).
Người làm chứng: Anh Võ Văn M (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 20 giờ 30 phút ngày 30/12/2024, Ngô Văn T gọi điện thoại cho một người đàn ông tên P1 (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy hồng phiến. Khoảng 30 phút sau, P1 gọi điện lại và bảo T đi ra hầm C ở xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An để lấy ma túy mà P1 dấu ở trong giấy ăn màu trắng ở dưới hầm chui, lấy ma túy xong thì để tiền đó cho P1. Sau đó, Ngô Văn T điều khiển xe máy nhãn hiệu Espero màu đen, biển kiểm soát 37FA - 516.15 đi đến địa điểm đã hẹn. Khi đến nơi, T thấy ở trên mặt đường ở dưới hầm chui phía bên trái hướng từ nhà T đi lên có 01 gói bên ngoài được gói bằng mảnh giấy ăn màu trắng, bên trong có chứa 01 gói nilon màu đen được quấn bên ngoài bằng băng keo màu đen, bên trong có chứa 12 viên ma túy hồng phiến. Tảo lấy gói nilon chứa ma túy ra cầm ở lòng bàn tay trái rồi quấn số tiền 1.000.000 đồng vào mảnh giấy ăn màu trắng và để lại vị trí cũ rồi đi về nhà lấy ra 05 viên ma túy sử dụng hết. Còn lại 07 viên ma túy hồng phiến thì Tảo gói lại như cũ rồi để ở trên nệm da cạnh vị trí Tảo ngồi trong nhà.
Đến khoảng hơn 01 giờ ngày 31/12/2024, T gọi điện thoại cho Hoàng Văn T2 rủ qua nhà T chơi thì T2 đồng ý. Đến khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, T nhận được cuộc gọi qua ứng dụng Zalo của một người đàn ông tên T4 (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua 05 viên ma túy hồng phiến. T đồng ý và nói với T4: “Đưa ma túy đến đâu” thì T4 nói: “Đưa lên xóm D, xã D, đoạn đường ra nghĩa địa cho anh”. T nói với T4: “Thằng cu em nó đưa ma túy lên đó cho anh thì anh gửi cho em bốn trăm” thì T4 đồng ý. Sau đó, T lấy 05 viên ma túy hồng phiến từ gói ma túy để ở trên nệm da ra gói trong mảnh giấy bạc màu trắng, còn lại 02 viên ma túy thì T gói lại như cũ rồi bỏ vào túi áo khoác phía trước bên trái T đang mặc trên người. Đến khoảng 08 giờ 40 phút cùng ngày, T đưa cho Hoàng Văn T2 gói giấy bạc màu trắng chứa 05 viên ma túy nói trên rồi bảo Toàn đưa lên khu vực xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An cho T4 và cầm tiền mua ma túy của T4 đưa về cho T. Tảo còn nói với T2 là sau khi đi giao ma túy cho T4 về thì T sẽ cho T2 tiền tiêu xài và cho ma túy để T2 sử dụng nên T2 đồng ý. T2 giấu gói ma túy vào dưới gấu quần phía bên chân phải chiếc quần T2 đang mặc trên người rồi điều khiển xe máy biển kiểm soát 37FA - 516.15 đi giao ma túy cho T4.
Đến 09 giờ 20 phút cùng ngày, khi T2 đi đến khu vực đường liên xóm thuộc xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì bị Tổ công tác Công an xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang T2, thu giữ dưới gấu quần phía bên chân phải chiếc quần của T2 đang mặc trên người 01 gói giấy bạc, bên trong có chứa 05 viên ma tuý hồng phiến.
Vào hồi 12 giờ 30 phút ngày 31/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện D, tỉnh Nghệ An thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Ngô Văn T. Khi thấy lực lượng Công an, do hoảng sợ nên T lấy 02 viên ma túy hồng phiến ở trong túi áo khoác phía trước bên trái T đang mặc trên người ra bỏ vào miệng nhai nuốt thì bị Cơ quan điều tra phát hiện. Thu giữ nhiều mảnh vỡ của viên ma túy hồng phiến Tảo nhai rơi ra ở trên thềm nhà bếp. Hồi 13 giờ 10 phút cùng ngày, Cơ quan điều tra thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với T về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 31/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và Bản kết luận giám định số 75/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 05/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
- Mẫu vật (ký hiệu M1) thu giữ của Hoàng Văn T2 gửi đến giám định là ma túy; loại Methamphetamine.
- Số viên nén màu hồng, có đặc điểm giống nhau thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Văn T2 có tổng khối lượng là 0,5 gam.
- Mẫu vật (ký hiệu M2) thu giữ của Ngô Văn T gửi đến giám định là ma túy; loại Methamphetamine.
- Các mảnh chất rắn màu hồng thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ngô Văn T có tổng khối lượng là 0,05 gam.
Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKSDC ngày 22/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An truy tố Ngô Văn T và Hoàng Văn T2 về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt Ngô Văn T từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt Hoàng Văn T2 từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong, bên trong có chứa 0,3 gam ma túy Methamphetamine; 01 mảnh giấy bạc và 02 phong bì thư niêm phong ban đầu; sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C15 màu xám thu giữ của Hoàng Văn T2 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu đen thu giữ của Ngô Văn T.
Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Ngô Văn T nhận tội, không tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt.
Bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn T2, Trợ giúp viên pháp lý không tranh luận gì về tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố. Đồng thời nhận định bị cáo phạm tội ở độ tuổi chưa thành niên, phần nào hạn chế về mặt nhận thức, thiếu sự quan tâm sâu sát của gia đình. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội do bị người khác rủ rê, lôi kéo. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất trong phạm vi đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Bị cáo Hoàng Văn T2, người đại diện hợp pháp của bị cáo không bổ sung ý kiến bào chữa và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội các bị cáo: Tại phiên toà, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, nội dung cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cũng như các chứng cứ, tài liệu điều tra khác đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận vào ngày 30/12/2024, Ngô Văn T có hành vi mua 12 viên ma túy hồng phiến Methamphetamine, sau đó sử dụng hết 05 viên. Còn lại 07 viên Tảo cất giữ để sử dụng và khi có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Ngày 31/12/2024, Ngô Văn T có hành vi giao cho Hoàng Văn T2 đi bán 01 gói ma tuý chứa 05 viên hồng phiến Methamphetamine có tổng khối lượng 0,5 gam cho một người tên T4 tại khu vực đường liên xóm thuộc xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì T2 bị Tổ công tác Công an xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang lúc 09 giờ 20 phút cùng ngày. Vào hồi 12 giờ 30 phút ngày 31/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện D, tỉnh Nghệ An thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Ngô Văn T, thu giữ nhiều mảnh vỡ của viên ma túy hồng phiến Tảo nhai rơi ra ở trên thềm nhà bếp có tổng khối lượng 0,05 gam.
Hành vi của Ngô Văn T đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự với khối lượng Methamphetamine 0,55 gam.
Hành vi của Hoàng Văn T2 đã phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự với khối lượng Methamphetamine 0,50 gam.
[3] Đánh giá nhân thân, tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội; làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và suy yếu nòi giống của dân tộc. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được tác hại to lớn của ma túy, nó thực sự là một hiểm họa lớn đối với con người và xã hội, làm xói mòn đạo đức lối sống, đồng thời là căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Đối với Ngô Văn T là bị cáo có nhân thân xấu, đã một lần bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tuy đã được đương nhiên xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà do nghiện ngập, hám lợi nên lại tiếp tục thực hiện tội phạm nghiêm trọng. Còn Hoàng Văn T2 tuy chưa có tiền án, tiền sự gì nhưng do không làm chủ được bản thân trước sự cám dỗ của ma túy nên đã giúp sức cho Ngô Văn T thực hiện hành vi phạm tội. Trong tình hình hiện nay, mặc dù các cơ quan chức năng đã áp dụng nhiều biện pháp đấu tranh phòng chống, Tòa án các cấp áp dụng nhiều hình phạt nghiêm khắc nhưng tội phạm về ma tuý trên địa bàn huyện nhà vẫn chưa có chiều hướng thuyên giảm mà còn xảy ra nhiều với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng, phức tạp hơn. Vì thế cần phải xử phạt nghiêm và cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian với mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Hoàng Văn T2 không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào; bị cáo Ngô Văn T bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải. Bị cáo Hoàng Văn T2 có ông ngoại là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì; có cậu ruột là Liệt sĩ. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tương ứng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo.
Ngoài các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, cần xem xét bị cáo Hoàng Văn T2 có vai trò thứ yếu, phạm tội do bị người khác rủ rê lôi kéo. Đồng thời áp dụng các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và Điều 54 của Bộ luật hình sự để quyết định mức hình phạt phù hợp so với người đã đủ 18 tuổi có vai trò tương đương và dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự như ý kiến của Kiểm sát viên và người bào chữa tại phiên tòa.
[5] Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh của cơ quan điều tra thì bị cáo Ngô Văn T là lao động tự do, thu nhập thấp, không ổn định, không có tài sản riêng. Bởi vậy cần xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo như đề nghị của dại diện Viện kiểm sát là thỏa đáng. Bị cáo Hoàng Văn T2 là người dưới 18 tuổi phạm tội nên không bị áp dụng hình phạt bổ sung.
[6] Về xử lý vật chứng:
0,55 gam ma tuý Methamphetamine thu giữ của các bị cáo, đã sử dụng hết 0,25 gam để giám định, còn lại 0,3 gam cùng bao bì niêm phong là vật chứng cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C15 màu xám thu giữ của Hoàng Văn T2 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu đen thu giữ của Ngô Văn T được các bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy, là vật liên quan đến tội phạm, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Espero, màu đen, biển kiểm soát 37FA - 516.15, được Ngô Văn T giao cho Hoàng Văn T2 sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Qua điều tra xác minh, chiếc xe trên thuộc sở hữu của chị Ngô Thị Ngọc Á (sinh năm 2005, trú tại xóm F, xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An). Chiếc xe trên được chị Á cho T mượn từ ngày 12/12/2024, hiện chị Á đang lao động và sinh sống tại nước ngoài. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Đối với người đàn ông tên P1 là người bán ma túy cho Ngô Văn T và người đàn ông tên T4 là người mua ma túy của Ngô Văn T (theo lời khai của T). Do không xác định được họ tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xác minh, xử lý.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự
Xử phạt: Ngô Văn T 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 31/12/2024).
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự
Xử phạt: Hoàng Văn T2 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 31/12/2024).
2. Việc xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu 01 phong bì thư niêm phong, bên trong có chứa 03 viên ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 0,3 gam (ký hiệu M1); 01 mảnh giấy bạc và 02 phong bì thư niêm phong ban đầu để tiêu hủy.
Sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C15 màu xám, số Imeil: 863373052228316, số Imei2: 863373052228308, đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình và mặt lưng sau điện thoại và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu đen, đã qua sử dụng, số Imeil: 869945063775973, số I: 869945063775965.
Các vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo Phiếu nhập kho 25NK061 ngày 07/02/2025.
3. Án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn T2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bạch Hưng Thành |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Văn Tảo và Hoàng Văn Toàn về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 điều 251 của Bộ luật hình sự.
