|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày: 21-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Đồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Lệ Mỹ;
- Bà Nguyễn Thị Kim Phi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Trương Anh T, sinh năm 1990, tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Khu phố F, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Trương Minh T1, sinh năm 1967 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1967; có vợ tên Nguyễn Thị N, sinh năm 1991 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2011; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/3/2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục trong thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 696/QĐ-UBND ngày 15/3/2012; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/9/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Phạm Chí N1, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương (có đơn xin vắng mặt).
- Người làm chứng:
- Ông Trịnh Xuân N2 (có mặt).
- Ông Nguyễn Đại L (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Nguyễn Đại L và Trương Anh T là bạn quen biết nhau từ năm 2018. Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 21/7/2019, L rủ T đến nhà của ông Trịnh Xuân N2 tại ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương là bạn của L để uống bia thì T đồng ý. Sau khi đến nhà ông N2 thì L, T và ông N2 ngồi uống bia tại hiên nhà của ông N2. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, ông Phạm Chí N1, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương đến nhà của ông N2 để tham gia uống bia cùng với ông N2, T và L.
Khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày 21/7/2019, trong lúc uống bia cùng nhau thì giữa ông N1 và T xảy ra mâu thuẫn cự cãi với nhau, sau đó T đứng dậy lấy 01 dao dài khoảng 41 cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 29 cm, bản dao rộng khoảng 07 cm, cán dao bằng gỗ dài khoảng 12 cm (dùng để chặt đá uống bia) để gần nơi ngồi uống bia. T cầm bằng tay phải và chém theo hướng từ trên chém xuống vào người ông N1 đang ngồi nhưng không trúng. Lúc này, ông N1 đứng dậy đối diện T thì bị T cầm dao bằng tay phải chém 01 nhát theo hướng ngang từ phải qua trái và trúng vào cẳng và cánh tay phải của ông N1. Sau đó, L và ông N2 can ngăn thì ông N1 chạy ra sân nhà của ông N2. Lúc này, ông N1 cầm lấy 01 lưỡi cuốc có kích thước khoảng 14,5 cm x 19 cm để đánh chống trả lại T thì được ông N2 và L tiếp tục can ngăn. Trong lúc can ngăn thì T tiếp tục cầm dao chém trúng vào lòng bàn tay trái của ông N1 01 cái, sau đó cả hai giằng co với nhau dẫn đến dao do T cầm chém trúng vào mặt của ông N1. Lúc này, ông N2 và L can ngăn, lấy được dao trên tay của T và cuốc trên tay của ông N1 ném xuống sân nhà. Trong lúc can ngăn, L bị ông N1 sử dụng lưỡi cuốc đánh trúng vào người L (không gây thương tích). Do bực tức nên L đẩy ông N1 ra ngoài sân và dùng tay phải đánh vào mặt ông N1 01 cái làm ông N1 té ngã (nhưng không gây thương tích). Lúc này, ông N2 can ngăn nên L và T rời khỏi hiện trường. Ông N1 được ông N2 đưa đi đến cấp cứu tại Trạm y tế xã L và tiếp tục được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B để điều trị thương tích. Sau khi gây thương tích cho ông N1 thì T đã bỏ trốn, sinh sống không nơi cư trú nhất định.
Ngày 25/7/2019, ông N1 đến Công an xã L trình báo sự việc trên và làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, yêu cầu giám định thương tích.
Nhận được tin báo, Công an xã L đã tiến hành xác định hiện trường đồng thời thu giữ vật chứng: 01 dao dài khoảng 41 cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 29 cm, bản dao rộng khoảng 07 cm, cán dao bằng gỗ dài khoảng 12 cm; 01 lưỡi cuốc có kích thước khoảng 14,5 cm x 19 cm.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 485/2019/GĐPY ngày 25/10/2019 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Phạm Chí N1 tại thời điểm giám định là 13 %. Tại Công văn số 187/CV-TTPY ngày 03/12/2024 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh B xác định cơ chế hình thành thương tích: Vết thương má trái: Sẹo bờ tương đối gọn, khả năng do vật sắc gây ra; Vết thương đuôi mày phải, vết thương cánh tay phải, vết thương cẳng tay phải, vết thương lòng bàn tay trái, vết thương mặt lòng ngón V tay trái: Các vết sẹo có bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra; Vết thương khuỷu phải đã lành tốt, hiện không thấy vết tích nên không xác định được cơ chế hình thành thương tích.
Về trách nhiệm dân sự: Ông N1 yêu cầu T bồi thường thiệt hại tổng số tiền 25.000.000 đồng. T đồng ý bồi thường số tiền trên nên ghi nhận.
Tại Cáo trạng số 10/CT-VKSDT ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Trương Anh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố đối với bị cáo Trương Anh T như Cáo trạng và đề nghị:
- Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trương Anh T mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại N1 yêu cầu bị cáo T bồi thường tổng số tiền là 25.000.000 đồng, bị cáo T đồng ý bồi thường nên ghi nhận.
- Về vật chứng: Đối với 01 (một) dao dài khoảng 41 cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 29 cm, bản dao rộng khoảng 07 cm, cán dao bằng gỗ dài khoảng 12 cm; 01 (một) lưỡi cuốc có kích thước khoảng 14,5 cm x 19 cm. Quá trình điều tra xác định, dao và lưỡi cuốc trên của ông N2, do đã cũ và không có giá trị nên ông N2 không yêu cầu nhận lại. Xét thấy là công cụ mà T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Tại phiên tòa, bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Bị cáo T đồng ý thỏa thuận bồi thường cho bị hại N1 tổng số tiền là 25.000.000 đồng. Tại lời nói sau cùng, bị cáo T xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái.
Quá trình tố tụng và tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại N1 có ý kiến: Bị hại N1 đồng ý với Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 485/2019/GĐPY ngày 25/10/2019 và Công văn số 187/CV-TTPY ngày 03/12/2024 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh B. Về trách nhiệm hình sự, bị hại N1 đề nghị Tòa án xét xử đối với bị cáo T theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại N1 yêu cầu bị cáo T bồi thường thiệt hại sức khỏe bị xâm hại với tổng số tiền 25.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện D và Điều tra viên, cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, không bị ai khiếu nại gì về việc tiến hành các hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ đối với vụ án nên toàn bộ hoạt động tố tụng, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể: Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 21/7/2019, tại nhà ông N2 thuộc ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương, bị cáo T có hành vi sử dụng 01 dao dài khoảng 41 cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 29 cm, bản dao rộng khoảng 07 cm, cán dao bằng gỗ dài khoảng 12 cm (Là hung khí nguy hiểm) chém nhiều cái vào vùng tay trái, tay phải và mặt của bị hại N1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%. Do đó, Cáo trạng số 10/CT-VKSDT ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương truy tố đối với bị cáo T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo T là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ. Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực để nhận thức được hành vi gây thương tích đối với người khác là vi phạm pháp luật thế nhưng bị cáo cố tình thực hiện nên phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; thể hiện xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo biết rõ sức khỏe của con người là vốn quý giá nhất được pháp luật bảo vệ nhưng bị cáo đã xâm phạm, gây thương tích đối với bị hại N1. Bị cáo T đã dùng hung khí là 01 dao dài khoảng 41 cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 29 cm, bản dao rộng khoảng 07 cm, cán dao bằng gỗ dài khoảng 12 cm chém nhiều cái vào vùng tay trái, tay phải và mặt của bị hại N1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13% theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 485/2019/GĐPY ngày 25/10/2019 và Công văn số 187/CV-TTPY ngày 03/12/2024 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh B nên đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
[4] Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội xâm phạm về tính mạng sức khỏe con người trên địa bàn huyện D, tỉnh Bình Dương nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung nên cần xử lý bị cáo T bằng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm có điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo T thành người công dân tốt, cũng như răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo T không có.
[7] Ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều khoản truy tố đề nghị áp dụng đối với bị cáo T là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng về hình phạt, Viện kiểm sát đề nghị là tương đối nhẹ vì bị cáo có thời gian bỏ trốn khỏi địa phương và từng có nhân thân xấu về hành vi đánh người, chưa đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt nặng hơn so với mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
[8] Ý kiến của bị cáo T tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án xảy ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt.
[9] Ý kiến của bị hại ông N1 là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[10] Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo T và bị hại ông N1 thống nhất thỏa thuận mức bồi thường toàn bộ thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm tổng số tiền 25.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo T đồng ý bồi thường nên ghi nhận.
[11] Xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) dao dài khoảng 41 cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 29 cm, bản dao rộng khoảng 07 cm, cán dao bằng gỗ dài khoảng 12 cm; 01 (một) lưỡi cuốc có kích thước khoảng 14,5 cm x 19 cm. Quá trình điều tra xác định, dao và lưỡi cuốc trên của ông N2, do đã cũ và không có giá trị nên ông N2 không yêu cầu nhận lại. Xét thấy, đây là công cụ mà bị cáo T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
[12] Án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- - Căn cứ các Điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Tuyên bố: Bị cáo Trương Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trương Anh T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 11/9/2024.
-
Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trương Anh T phải bồi thường cho bị hại ông Phạm Chí N1 tổng số tiền là 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày ông Phạm Chí N1 có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu bị cáo Trương Anh T không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng bị cáo Trương Anh T còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
-
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) dao dài khoảng 41 cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 29 cm, bản dao rộng khoảng 07 cm, cán dao bằng gỗ dài khoảng 12 cm; 01 (một) lưỡi cuốc có kích thước khoảng 14,5 cm x 19 cm.
(Vật chứng vụ án hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng giữ theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 15/01/2025).
-
Về án phí:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trương Anh T phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trương Anh T phải nộp số tiền 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
-
Về quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án:
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 21/02/2025).
- Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Đồng |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội
