Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày 20 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Dương Thị Nam

2. Ông Nguyễn Văn Hợi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Ông Lưu Nguyên Vũ - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/TLST- HS, ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN VĂN Đ, sinh năm 2004

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm X, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thành Đ1, sinh năm 1982 và bà Đặng Thị T, sinh năm 1983; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 06/8/2024, Đ bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích, bằng hình thức phạt tiền 6.500.000 đồng. Độ đã nộp xong khoản tiền trên.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ bị bắt tạm giam từ ngày 03/01/2025 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

(Có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 2005

Trú tại: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt)

2. Anh Nông Văn T2, sinh năm 2002

Trú tại: Thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn

(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

3. Ông Nguyễn Thành Đ1, sinh năm 1982

4. Bà Đặng Thị T, sinh năm 1983

Cùng trú tại: Xóm X, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

(Ông Đ1, bà T đều có mặt)

- Người làm chứng:

1. Anh Bùi Đức H, sinh năm 2007

Trú tại: TDP B, phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt)

2. Anh Võ Hoàng H1, sinh năm 2007

Trú tại: Tổ H, phường H, TP ., tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Văn T1 là bạn bè quen biết nhau. Ngày 18/5/2024, Đ đến phòng trọ của T1 chơi và gặp các bạn của T1 là Bùi Đức H và Võ Hoàng H1. Đến khoảng gần 21 giờ cùng ngày, bạn của T1 là Nông Văn T2 (Sinh năm 2002; trú tại: thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn) gọi điện nhờ T1 đưa xuống huyện P gặp bạn của T1 là Dương Hồng Q để chuộc lại điện thoại T2 đã nhờ T1 giới thiệu để cầm cố cho Q vào buổi chiều cùng ngày. T1 đồng ý và rủ H, H1 cùng đi, còn Đ nằm ngủ tại phòng trọ. Trên đường đi, T1 rủ H và H1 lừa đảo chiếm đoạt số tiền 4.500.000 đồng của T2 dùng để chuộc điện thoại thì H và H1 đồng ý. Cả ba thống nhất bàn bạc sau khi xuống đến xã Đ thì H sẽ ở lại với T2 để tạo lòng tin còn T1 và H1 sẽ nhận tiền của T2 rồi giả vờ đi gặp Q chuộc lại điện thoại cho T2 nhưng sẽ không chuộc mà chiếm đoạt tiền của T2, nếu T2 chuyển tiền qua số tài khoản thì sẽ chuyển tiền vào số tài khoản của bạn H là Nguyễn Thị Phương T3 (Sinh năm 2006; trú tại: tổ I, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên), sau đó H sẽ nhờ T3 chuyển lại cho H. Khi đến khu vực Trường tiểu học xã Đ, huyện P, T1 đưa ra thông tin giả về việc sẽ đi chuộc điện thoại cho T2 rồi bảo anh T2 đưa cho T1 số tiền 4.500.000 đồng. Thượng đưa cho T1 2.500.000 đồng tiền mặt. Số tiền còn lại, T1 bảo T2 chuyển khoản vào tài khoản của mẹ Q nhưng thực chất là số tài khoản của T3. Sau khi T2 chuyển tiền, T1 điều khiển xe mô tô chở H1 đến cổng nhà Q bỏ ra số tiền 350.000 đồng để chuộc lại chiếc điện thoại Iphone 6s màu hồng của T1 đã cầm cố cho Q trước đó. Lấy xong điện thoại, T1 điều khiển xe chở H1 đi về, trên đường về T1 chia cho H1 số tiền 1.000.000 đồng rồi quay lại phòng trọ của T1 để đón Đ, trên đường đi T1 và H1 kể với Đ về việc vừa lừa được số tiền 4.500.000 đồng của T2. Khi đến nhà nghỉ H2 thuộc tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, T1, H1 và Đ thuê một phòng nghỉ rồi H1 điều khiển xe mô tô đi đón H đến nhà nghỉ H2, tại đây T1, H, H1 và Đ nói chuyện với nhau về việc lừa tiền của T2, H nhắn tin cho T3 nhờ chuyển lại số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng Q1 số 0972181580 mang tên NGUYEN VAN TU của T1. Nhận tiền xong, T1 nói với Đ là chia cho Đ thì Đ bảo T1 chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng B số 8861412135 mang tên NGUYEN THỊ MINH THUY để Độ nạp vào tài khoản chơi game trên mạng. Khoảng 23 giờ cùng ngày, T1 đã chuyển số tiền 800.000 đồng vào tài khoản ngân hàng theo thông tin Đ cung cấp. Tiếp đó T1 chuyển khoản cho H số tiền 1.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng M1 số [...] mang tên BUI DỤC HUY, còn lại số tiền 1.500.000 đồng thì T1 giữ lại. Đến sáng ngày 19/5/2024, T1 đưa thêm cho Đ 200.000 đồng tiền mặt từ số tiền chiếm đoạt được của T2. Khi nhận tiền của T1 thì Đ biết rõ là tiền T1, H1 và H lừa đảo chiếm đoạt được của anh T2 nhưng vẫn nhận tiền sau đó sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Quá trình điều tra, Đ đã bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 03/01/2024 bị bắt theo Lệnh bắt bị can để tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Đ đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của Đ là có căn cứ, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường; vật chứng thu giữ; biên bản kiểm tra điện thoại, lịch sử giao dịch chuyển tiền của các số tài khoản ngân hàng của anh T2, T1, bà D và chị T3, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đối với số tiền T1 chia cho Đ, Đ khai nhận đã dùng vào việc nạp thẻ chơi G và tiêu xài cá nhân hết nên không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Độ cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường cho T2 số tiền 1000.000 đồng, T2 không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Tại bản cáo trạng số: 13/CT-VKSPB, ngày 21/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; điểm b,i, s khoản 1,2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 06 đến 09 tháng tù.

Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Đối với việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh T1, anh T2 và những người làm chứng trong vụ án. Hội đồng xét xử thấy, anh T2 đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và xác nhận đã nhận lại đủ số tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn T1 hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác nên vắng mặt, xét thấy, lời khai của anh T1 và lời khai của bị cáo Đ phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác nên không cần thiết phải có mặt anh T1 tại phiên tòa hôm nay. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh T1, anh T2 và người làm chứng đã có lời khai đầy đủ tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên.

[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố và phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 21 giờ ngày 18/5/2024, tại khu vực cổng trường tiểu học Đ, thuộc xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Văn T1, Bùi Đức H, Võ Hoàng H1 đã cùng bàn bạc, thống nhất sau đó đưa ra thông tin giả lừa đảo chiếm đoạt số tiền 4.500.000 đồng (gồm 2.500.000 đồng tiền mặt và 2.000.000 đồng tiền tài khoản ngân hàng) của anh Nông Văn T2. Sau khi chiếm đoạt được tiền, T1 chia cho H và H1 mỗi người 1.000.000 đồng. Khoảng 23 giờ ngày 18/5/2024 khoảng 07 giờ 30 phút ngày 19/5/2024, tại nhà nghỉ H2 thuộc tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, T1 đã chia cho Nguyễn Văn Đ số tiền 1.000.000 đồng trong tổng số tiền 4.500.000 đồng chiếm đoạt của T2, Đ biết là tiền T1 chia cho do T1 phạm tội mà có nhưng vẫn nhận và tiêu xài cá nhân hết.

Xét, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Đ là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo biết rõ số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) mà anh Nguyễn Văn T1 đưa cho là do anh T4 lừa đảo chiếm đoạt của anh Nông Văn T2 mà có thế nhưng bị cáo vẫn cố tình nhận số tiền đó và sử dụng tiêu sài cá nhận hết. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có". Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" theo quy định tại Khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Nội dung khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự quy định:

"Điều 323. Tội ... tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

"1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm..”

[4]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương, hành vi đó cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội bị cáo đã tác động và cùng gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho anh Nông Văn T2, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015. Ngoài ra, Nguyễn Văn Đ có bà nội được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 BLHS.

Từ những căn cứ nêu trên, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc có một mức án tương xứng với nhân thân, tính chất mức độ tội phạm do bị cáo gây ra.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 323 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Văn T1, Võ Hoàng H1, Bùi Đức H và hành vi trộm cắp tài sản của Dương Hồng Q đã bị truy tố tại Cáo trạng số 09 ngày 14/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình.

[8]. Đối với số tài khoản ngân hàng B: Tiến hành xác minh tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 được cung cấp thông tin chủ tài khoản là Nguyễn Thị Minh T5, sinh năm 1982, HKTT: 181/169/13 P, phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ủy thác cho Cơ quan CSĐT Công an quận P, T6 phô Hồ Chí M để xác minh về công dân. Tuy nhiên, công dân không sinh sống tại địa phương, mà cư trú tại F đường số B, khu phố B, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã ủy thác cho Cơ quan CSĐT Công an quận G, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xác minh về công dân, được trả lời như sau: Công dân không thực tế cư trú tại địa chỉ nêu trên. Quá trình điều tra, Đ khai nhận Đ chơi game trên mạng internet và phải nạp tiền vào tài khoản trên mạng để có tiền chơi game, Đ cung cấp thông tin số tài khoản B 8861412135 NGUYEN THI MINH THUY cho T1 để T1 chuyển tiền nạp vào tài khoản game cho Đ; Đ không hề quen biết, không có mối quan hệ gì với chủ tài khoản nêu trên; Đ không liên lạc, trao đổi, bàn bạc gì với chủ tài khoản này trước khi bảo T1 chuyển tiền, không cho chủ tài khoản này biết số tiền 800.000 đồng mà T1 chuyển vào là tài sản do vi phạm pháp luật mà có. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện P không có căn cứ làm rõ, xử lý đối với người phụ nữ tên Nguyễn Thị Minh T5 nêu trên.

[9]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội về tội danh, mức hình phạt, các điều luật áp dụng là phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.

[10]. Cần áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định.

[11]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước theo quy định pháp luật.

[12]. Thông báo về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ, pháp luật áp dụng: Khoản 1 Điều 323; điểm b,i, s khoản 1,2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm tạm giam là ngày 03 tháng 01 năm 2025.
  3. Ra Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn Đ với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm, nộp sung quỹ Nhà nước.
  5. Thông báo quyền kháng cáo: Có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thành Đ1, bà Đặng Thị T, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn T1, anh Nông Văn T2, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS ND huyện Phú Bình;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Phú Bình;
  • - CQTHAHS Công an huyện Phú Bình;
  • - CC T.H.A DS huyện Phú Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VP, T.H.A HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự - tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger