Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM GIÀNG

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày: 20/02/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Tố Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hương Giang và Bà Nguyễn Thị Thúy

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mùng - Thư ký Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh và ông Nguyễn Ánh D - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 119/2024/HSST ngày 30 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025, theo thông báo về việc thay thời gian mở phiên tòa hình sự ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Xuân H, sinh năm 1999. Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam. Nơi sinh và đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Xuân P, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị T (đã chết); có vợ là chị Hoàng Thị T1, sinh năm 1999. Bị cáo có 01 con, sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/9/2024 đến ngày 06/10/2024 chuyển tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H;
  2. Họ và tên: Lưu Văn V, sinh năm 1991; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam. Nơi sinh và đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Lưu Văn Đ, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/9/2024 đến ngày 06/10/2024 chuyển tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H;
  3. Họ và tên: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1997; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam. Nơi sinh và đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn T3 (đã chết) và bà Đỗ Thị H1 - sinh năm 1963; bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/9/2024 đến ngày 06/10/2024 chuyển tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H;
  4. Họ và tên: Kiên Minh T4, sinh năm 2003; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh, Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Bố mẹ đẻ: đều không rõ; Bố nuôi là ông Kiên Tấm P1, sinh năm 1974 và mẹ nuôi là bà Nguyễn Thị Bé H2, sinh năm 1971; bị cáo chưa có vợ. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/9/2024 đến ngày 06/10/2024 chuyển tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H;
  5. Họ và tên: Lê Thị Hồng N, sinh năm 1981; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ. Nơi đăng ký hộ khẩu: Số nhà A ngách I ngõ A Hồ T, phường M, quận C, thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: Ngách C, ngõ A phố L, Khu D, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Lê Văn L, sinh năm 1950 và bà Phạm Thị L1, sinh năm 1956; (Ông L và bà L1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương, Huy chương và B khen) có chồng là anh Bùi Đức V1, sinh năm 1981 (đã ly hôn). Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/10/2024 đến ngày 07/10/2024 chuyển tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa;

* Người làm chứng:

  1. Chị Tàng Thị T5, sinh năm 2006;
  2. Anh Trần Hữu L2, sinh năm 2003;
  3. Anh Phạm Thành C1, sinh năm 2003;
  4. Anh Nguyễn Văn L3, sinh năm 1994;
  5. Bà Nguyễn Thúy N1, sinh năm 1974;
  6. Bà Cao Thị N2, sinh năm 1972;
  7. Chị Đỗ Thị T6, sinh năm 1998.

Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Xuân H, Lưu Văn V và Nguyễn Văn T2 có quan hệ bạn bè xã hội; H quen biết với Lê Thị Hồng N, Kiên Minh T4 và đều là người sử dụng ma túy. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 29/9/2024, T2, H và V gặp nhau tại quán Dũng N3, địa chỉ thôn T, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương. Tại đây, T2 rủ V và H góp tiền mua ma tuý về cùng sử dụng, cả ba thống nhất, Hoàng ứng 500.000 đồng ra mua 01 gói ma túy đá, tiền mua ma tuý và thuê phòng sử dụng, sau này sẽ chia đều cho cả 3 người. Sau đó, H sử dụng điện thoại Iphone 7 không lắp sim gọi và nhắn tin từ tài khoản zalo “Nguyễn Xuân H” đến tài khoản “Thẩm Mỹ Kiều Nhung” của N hỏi mua 500.000 đồng ma tuý đá, Hoàng mượn điện thoại Iphone 6S của T2 đăng nhập ví điện tử momo của H chuyển khoản 650.000 đồng đến số tài khoản 0902391888 ngân hàng M1 của N (trong đó, H nhờ N nạp tiền game 250.000 đồng, mua ma túy 500.000 đồng nhưng H nợ N 100.000 đồng). N đồng ý, lấy 01 túi ma túy đá có sẵn tại nhà, bọc trong mảnh giấy vệ sinh đi bộ ra để tại khe cột điện đầu ngõ A phố L, phường N, thành phố H. Sau đó, N sử dụng điện thoại Iphone 11 Pro max lắp sim số 0902391888 của N gọi zalo chỉ dẫn cho H đến vị trí để ma túy.

Khoảng 09 giờ cùng ngày, T2 điều khiển xe môtô BKS 34B4-682.99 mượn của V chở H đến đường P, thành phố H mua của một người đàn ông (không rõ tên, địa chỉ) 01 ống hút nhựa với số tiền 10.000 đồng làm dụng cụ sử dụng ma túy (T2 trả tiền mua ống hút). Sau đó, T2 chở H đến vị trí N chỉ dẫn lấy túi ma túy mang về nhà nghỉ P2, ở thôn T, thị trấn L, H đứng đợi để T2 đến quán Dũng N3 đón V. Khoảng 09 giờ 30 phút, V, H, T2 gặp chị Cao Thị N2, sinh năm 1972, là chủ nhà nghỉ thuê phòng 302 đồng thời V sử dụng điện thoại Iphone 11, lắp sim số 0969416501 chuyển khoản 300.000 đồng từ số tài khoản 106871952839 ngân hàng V2 cho chị N2. Khi lên phòng, H bỏ túi ma túy, coóng thủy tinh (mượn của T4 từ trước) và ống hút nhựa để ba người cùng lắp thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy. H đổ một phần ma túy đá vào coóng thủy tinh, dùng bật lửa ga châm đốt dưới đáy coóng để H, T2 và V cùng sử dụng bằng hình thức hút trực tiếp vào cơ thể. Khoảng 10 giờ cùng ngày, chị Tàng Thị T5, sinh năm 2006 (là bạn gái của T2) đến nhà nghỉ P2 đón T2 về. Sau khi T2 về, H và V sử dụng hết số ma túy trong coóng rồi nằm nghỉ. Lúc này, T4 sử dụng điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, lắp sim số 0869403180 gọi và nhắn tin từ tài khoản zalo “Thi Sonic” đến tài khoản zalo của H hỏi xin một ít ma túy để sử dụng, H đồng ý bảo T4 đến nhà nghỉ P2. H gói túi ma túy, coóng thủy tinh (trả T4) vào chiếc khẩu trang mang xuống cửa nhà nghỉ đưa cho T4. Sau đó, do giá thuê phòng 302 cao, H và V bảo chị N2 đổi sang phòng 501, chị N2 yêu cầu thanh toán 300.000 đồng tiền phòng nên V chuyển khoản cho H 200.000 đồng để H thêm 100.000 đồng chuyển khoản cho chị N2 rồi H và V lên phòng 501 ngủ.

Sau khi xin được ma túy của H, T4 cầm về phòng trọ tại thôn T, thị trấn L, huyện C, phòng trọ do anh Nguyễn Văn L3, sinh năm 1994 thuê của chị Nguyễn Thúy N1, sinh năm 1974 để T4 cùng với Trần Hữu L2, sinh năm 2003, ở Ấp K, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang và Phạm Thành C1, sinh năm 2003, ở Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang ở (T4, L2, C1 làm thuê cho anh L3). Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, T4 lắp coóng thủy tinh (do Hoàng trả) vào chai nhựa tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi đổ hết túi ma túy đá H cho vào trong coóng. Lúc này, thấy L2 và C1 đi làm về phòng nên T4 rủ L2 và C1 sử dụng ma túy cùng. T4 dùng bật lửa châm đốt dưới đáy coóng để T4, L2, C1 cùng sử dụng bằng hình thức hút trực tiếp vào cơ thể. Sau khi sử dụng xong, do coóng bị hỏng nên T4 đã đập vỡ coóng, vút vào bồn vệ sinh và xả nước đi.

Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, H và V ngủ dậy tiếp tục rủ nhau góp 500.000 đồng mua ma túy đá về cùng sử dụng. H hỏi vay V tiền chuộc xe thì V đồng ý chuyển khoản cho H 4.000.000 đồng (trong đó V cho H vay 3.750.000 đồng, góp tiền mua ma túy 250.000 đồng). H gọi zalo cho N hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá đồng thời chuyển khoản 3.600.000 đồng từ số tài khoản 1999938688888 ngân hàng M2 đến số tài khoản của N (gồm 100.000 đồng trả nợ tiền mua ma túy buổi sáng; 500.000 đồng mua ma túy và 3.000.000 đồng để H nhờ N chuyển vào tài khoản game). N đồng ý, lấy 01 túi ma túy đá bên trong có 01 viên ma túy hồng phiến có sẵn tại nhà (N cho H thêm viên ma túy) bọc trong mảnh giấy vệ sinh rồi đi bộ ra để tại khe cột điện đầu ngõ A phố L (vị trí để túi ma túy buổi sáng) và bảo H đến lấy. Khoảng hơn 20 giờ cùng ngày, H thuê taxi đến vị trí N chỉ dẫn lấy túi ma túy mang về nhà nghỉ P2.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, H nhắn tin qua zalo hỏi mượn T4 coóng thủy tinh, nắp chai và ống hút nhựa để sử dụng ma túy, T4 đồng ý cầm đến cửa nhà nghỉ P2 đưa cho H. H cầm lên phòng 501 lắp thành bộ dụng cụ sử dụng rồi đổ túi ma túy và viên ma túy hồng phiến vào coóng thủy tinh, dùng bật lửa đốt dưới đáy coóng để H và V cùng sử dụng bằng hình thức hút. Do nghi ngờ tại phòng 501 có hành vi vi phạm pháp luật, chị N2 trình báo Công an thị trấn L, huyện C Đến 23 giờ cùng ngày, khi H và V đang sử dụng ma túy thì bị Công an thị trấn L bắt quả tang, thu giữ 01 chai nhựa nhãn Latte, nắp chai đục 02 lỗ nhỏ, 01 lỗ cắm coóng thuỷ tinh, bám dính chất muội màu đen và 01 lỗ cắm ống hút bằng nhựa màu trắng; 03 bật lửa gas (màu đỏ, tím và xanh); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 không lắp sim của Nguyễn Xuân H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím, lắp sim số 0969416501 và xe môtô Honda Airblade màu đen, BKS 34B4-682.99 của Lưu Văn V. Ngày 30/9/2024, Công an thị trấn L chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an huyện C giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 30/9/2024, Nguyễn Văn T2 đầu thú; Kiên Minh T4 tự thú, tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, lắp sim số 0869403180; 01 chai nước màu trắng bên trong chứa chất lỏng màu trắng và 01 bật lửa ga màu trắng nhãn hiệu Hoa Việt. Chị Cao Thị N2 tự nguyện giao nộp 600.000 đồng.

Khám xét chỗ ở của Lê Thị Hồng N thu giữ: Tại vị trí gầm giường trên gác xép: 01 ví da màu đỏ bên trong có 01 túi nilon màu trắng, kích thước (8x5)cm bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 02 túi nilon màu trắng, miệng viền cam, kích thước (5,7x3,7)cm bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, 01 túi nilon màu trắng, miệng viền cam, kích thước (5,5x3,7)cm bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, kích thước (7x4,5)cm bên trong có 06 túi nilon viền màu xanh, kích thước (2x2)cm bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 02 túi nilon màu trắng, miệng viền đỏ, kích thước (3,3x2,2)cm bên trong có 01 túi chứa 6 viên nén màu đỏ và 01 túi chứa 9 viên nén màu đỏ; 01 ống hút nhựa màu trắng cắt vát một đầu dài 10,2cm; 01 túi nilon màu trắng có viền đỏ, kích thước (11,5x6,7)cm bên trong có nhiều vỏ túi nilon; 01 cân điện tử màu đen kích thước (8x5)cm trên mặt có dòng chữ ASOAI. N khai nhận là ma túy đá và hồng phiến, N cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời. T5 tại vị trí nóc tủ bếp 01 túi nilon màu trắng, miệng viền đỏ, kích thước (9,5x5,7)cm bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. N khai nhận đây không phải là ma túy, N được cho và không sử dụng vào việc gì. Quản lý của N 01 điện thoại Iphone XS Pro max màu vàng, không lắp sim; 01 điện thoại Iphone 11 Pro max màu đen lắp sim số 0902391888 và 01 thẻ ngân hàng M2 mang tên Lê Thị Hồng N. Ngày 17/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra lệnh phong toả tài khoản ngân hàng M2 của Lê Thị Hồng N.

* Kết luận giám định số 412/KL-KTHS ngày 02/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Tìm thấy chất ma tuý, loại Methamphetamine trong mẫu chất muội màu nâu đen bám dính bên trong bầu coóng thủy tinh; trong chai nhựa nhãn hiệu Latte và trong ống hút nhựa thu tại phòng 501 nhà nghỉ P2.

* Kết luận giám định số 413/KL-KTHS ngày 02/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Tìm thấy chất ma tuý, loại Methamphetamine trong mẫu chất lỏng màu trắng bám dính trong chai nhựa màu trắng thu của Kiên Minh T4.

* Kết luận giám định số 417/KL-KTHS ngày 03/10/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng kích thước (8x5)cm là ma tuý Methamphetamine, khối lượng 5,571g; Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 02 túi nilon màu trắng, miệng viền cam, kích thước (5,7x3,7)cm là ma tuý Methamphetamine, tổng khối lượng 5,730g; Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng viền màu cam kích thước (5,5x 3,7)cm là ma tuý Methamphetamine, khối lượng 4,900g; Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 06 túi nilon màu trắng viền màu xanh kích thước (2x2)cm là ma tuý Methamphetamine, khối lượng 1,876g; Các viên nén màu đỏ là ma tuý Methamphetamine, khối lượng 1,531g; Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong ống hút nhựa màu trắng cắt vát một đầu là ma tuý Methamphetamine; Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng viền khoá màu đỏ kích thước (9,5x 5,7)cm không tìm thấy chất ma túy, khối lượng 43,912g.

* Kết luận giám định số 7941/KL-KTHS ngày 28/10/2024 của V3 - Bộ C3, kết luận: Không tìm thấy tiền chất để sản xuất ma tuý trong mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng viền khoá màu đỏ kích thước (9,5x 5,7) cm thu của Lê Thị Hồng N.

Quá trình điều tra xác định xe môtô BKS 34B4-682.99 là tài sản của chị Đỗ Thị T6, sinh năm 1998, ở thôn T, thị trấn L cho V mượn. Ngày 14/10/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chị T6. Đối với chiếc điện thoại Iphone 6S màu đen của Nguyễn Văn T2, ngày 29/9/2024 T2 đã bán cho người không quen biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chúng theo quy định.

Về vật chứng vụ án: Đối với 05 điện thoại di động; 01 chai nước màu trắng, không có nhãn hiệu; 01 chai nhựa nhãn Latte, nắp chai được đục 02 lỗ, trong đó 01 lỗ có cắm coóng thuỷ tinh, 01 lỗ có cắm ống hút bằng nhựa màu trắng; 04 bật lửa gas; 18,189g Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01 ví da màu đỏ; các vỏ túi nilon; 01 ống hút nhựa màu trắng cắt vát một đầu; 01 cân điện tử màu đen; 01 thẻ ngân hàng MB mang tên Lê Thị Hồng N; 01 thùng catton niêm phong số 7941/KL-KTHS của V3 Bộ C3 bên trong có chất rắn dạng tinh thể không phải là ma túy đang quản lý tại kho vật chúng của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng và số tiền 600.000 đồng đang quản lý tại Kho bạc nhà nước huyện C chờ xử lý trong giai đoạn xét xử và thi hành án.

Tại Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 26/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H, Lưu Văn V, Kiên Minh T4 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Nguyễn Văn T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Lê Thị Hồng N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả xét nghiệm chất ma túy và kết luận giám định nêu trên, đồng thời thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật được nêu tại nội dung bản Cáo trạng là hoàn toàn đúng.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quan điểm truy tố, phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bị cáo Nguyễn Xuân H, Kiên Minh T4, Nguyễn Văn T2, Lưu Văn V, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Thị Hồng N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H;

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H từ 08 (T) năm 08 (T7) tháng tù đến 09 (Chín) năm 02 (Hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 30/9/2024.

- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự bị cáo V;

Đề nghị xử phạt bị cáo Lưu Văn V từ 08 (T) năm 04 (Bốn) tháng tù đến 8 (T7) năm 10 (M) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 30/9/2024.

- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T4;

Đề nghị xử phạt bị cáo Kiên Minh T4 từ 08 (T) năm 02 (Hai) tháng tù đến 08 (T7) năm 08 (T7) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 30/9/2024.

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T2;

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 từ 07 (Bẩy) năm 06 (S) tháng tù đến 08 (T7) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 30/9/2024.

- Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo N;

Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng N từ 08 (T) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 09 (C2) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 01/10/2024.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

- Về vật chúng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  • Tịch thu tiêu hủy: 18,189g Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01 chai nước màu trắng; 01 chai nhựa nhãn Latte, nắp chai được đục 02 lỗ, trong đó 01 lỗ có cắm coóng thuỷ tinh, 01 lỗ có cắm ống hút bằng nhựa màu trắng; 04 bật lửa gas; 01 ống hút nhựa màu trắng cắt vát một đầu; 01 cân điện tử màu đen; 01 thẻ ngân hàng M2 mang tên Lê Thị Hồng N; 01 ví da màu đỏ; 43,912g chất rắn dạng tinh thể màu trắng không phải ma túy và các vỏ túi nilon.
  • Tịch thu, phát mại sung quỹ Nhà nước: điện thoại Iphone 11 Pro max màu đen, điện thoại Iphone 7 màu hồng, điện thoại di Iphone 11 màu tím và điện thoại Iphone 7 Plus màu đen.
  • Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm ngàn đồng chẵn);
  • Truy thu số tiền 400.000₫ (Bốn trăm ngàn đồng chẵn) sung quỹ nhà nước của bị cáo Nguyễn Văn T2;
  • Trả lại cho bị cáo Lê Thị Hồng N chiếc điện thoại Iphone XS Pro max màu vàng, không lắp sim;
  • Truy thu số tiền 1.000.0000 đồng (Một triệu đồng chẵn) sung quỹ Nhà nước của Lê Thị Hồng N;
  • Tịch thu tiêu huỷ các sim 0902391888, 0869403180, 0969416501 và đề nghị doanh nghiệp V4 thu hồi các số viễn thông 0902391888, 0869403180, 0969416501.

- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Luật phí, lệ phí. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc các bị cáo, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản kiểm tra điện thoại, lời khai người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

  • Khoảng 09 giờ và khoảng 22 giờ ngày 29/9/2024, tại phố L, phường N, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Lê Thị Hồng N có hành vi bán trái phép 02 túi ma túy Methamphetamine với số tiền 1.000.000 đồng cho Nguyễn Xuân H với mục đích để kiếm lời. Ngoài ra, N còn cất giấu 19,608g ma tuý Methamphetamine với mục đích để bán cho người khác kiếm lời.
  • Khoảng 10 giờ ngày 29/9/2024, tại phòng 302 nhà nghỉ P2, địa chỉ thôn T, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương. Nguyễn Xuân H, Lưu Văn V và Nguyễn Văn T2 có hành vi chuẩn bị địa điểm, công cụ, ma tuý Methamphetamine để tổ chức cho nhau sử dụng trái phép. Khoảng 10 giờ 35 cùng ngày, tại khu vực trước cửa nhà nghỉ P2, Nguyễn Xuân H có hành vi cho Kiên Minh T4 01 túi ma tuý Methamphetamine. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày tại phòng trọ của T4 ở thôn T, thị trấn L, T4 có hành vi chuẩn bị địa điểm, công cụ để tổ chức cho Trần Hữu L2, sinh năm 2003 và Phạm Thành C1, sinh năm 2003 sử dụng trái phép ma tuý Methamphetamine do H cho. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, tại khu vực trước cửa nhà nghỉ P2, Kiên Minh T4 có hành vi cho Nguyễn Xuân H mượn bộ dụng cụ để H sử dụng ma tuý. Sau đó, trong khoảng thời gian từ 22 giờ 30 phút đến 23 giờ cùng ngày, tại phòng 501 nhà nghỉ P2, Nguyễn Xuân H cùng Lưu Văn V đã tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý Methamphetamine thì bị Công an thị trấn L, huyện C bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của các bị cáo H, V, T4, T2 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho hành vi mua bán trái phép chất ma túy, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe về tinh thần, thể chất và tài sản của người sử dụng, gây lo lắng, buồn phiền cho những người thân trong gia đình, các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo H, V, T4 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “đối với hai lần trở lên” và “đối với hai người trở lên” được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “đối với hai người trở lên” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của các bị cáo N rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe về tinh thần, thể chất và tài sản của người sử dụng, gây lo lắng, buồn phiền cho những người thân trong gia đình, mà còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Hành vi của bị cáo N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “đối với hai lần trở lên” và “có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng nêu tại bản cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về vai trò của các bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều xác định hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà nghỉ P2 thì bị cáo Nguyễn Xuân H trực tiếp liên hệ mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy nên giữ vai trò thứ nhất, bị cáo Lưu Văn V chuẩn bị tiền và dụng cụ sử dụng ma túy, Nguyễn Văn T2 là người khỏi xướng, chuẩn bị tiền và dụng cụ sử dụng ma túy nên đồng phạm giữ vai trò thứ hai trong vụ án; Kiên Minh T4 cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy nên đồng phạm giữ vai trò thứ ba trong vụ án. Hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ của Kiên Minh T4 thì bị cáo T4 có hành vi khởi xướng, chuẩn bị dụng cụ, địa điểm để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên giữ vai trò thứ nhất, H có hành vi cung cấp ma túy cho T4 nên đồng phạm giữ vai trò thứ hai trong vụ án. Bị cáo Lê Thị Hồng N phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập đối với hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Về tình tiết tăng nặng TNHS: Xác định các bị cáo phạm tội với tình tiết định khung hình phạt nên các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo khai báo thành khẩn hành vi phạm tội nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo T4 tự thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS qui định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Bị cáo T2 đầu thú và bị cáo N có bố, mẹ được Nhà nước tặng thư ởng Huân chương, Huy chương và Bằng khen nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xem xét đánh giá vị trí vai trò của từng bị cáo, cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo đã thực hiện.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có tài sản riêng và đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 chai nước màu trắng, không có nhãn hiệu; 01 chai nhựa nhãn Latte, nắp chai được đục 02 lỗ, trong đó 01 lỗ có cắm coóng thuỷ tinh, 01 lỗ có cắm ống hút bằng nhựa màu trắng; 04 bật lửa gas; 18,189g Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01 ví da màu đỏ; các vỏ túi nilon; 01 ống hút nhựa màu trắng cắt vát một đầu; 01 cân điện tử màu đen; 01 thẻ ngân hàng M2 mang tên Lê Thị Hồng N; 01 thùng catton niêm phong số 7941/KL-KTHS của V3 Bộ C3. Đây là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max của bị cáo N; điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím của bị cáo V; điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen của bị cáo T4; điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 không lắp sim của Nguyễn Xuân H. Xét các bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội có giá trị sử dụng nên cần tịch thu phát mại lấy giá trị sung quỹ nhà nước theo qui định của pháp luật theo điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Đối với các sim số di động 0969416501 (của V), số 0869403180 (của T4); 0902391888 (của N) các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Xét, cần tịch thu tiêu hủy theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Yêu cầu doanh nghiệp V4; MobiFone và Viễn thông V5 thu hồi các số thuê bao di động 0902391888, 0869403180, 0969416501 theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông.
  • Đối với số tiền 600.000₫ các bị cáo đã thuê phòng 302 và phòng 501 tại nhà nghỉ P2 để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Khi hành vi phạm tội bị phát hiện bà N2 là người quản lý nhà nghỉ đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan Công an. Xác định số tiền trên thu lời bất chính mà có nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
  • + Đối với số tiền 1.000.0000 đồng bị cáo N thu lời bất chính từ việc bán ma túy cho H ngày 29/9/2024 mà có nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
  • + Đối với số tiền 1.000.000₫ đồng đã phong tỏa tại tài khoản số 0902391888 mang tên Lê Thị Hồng N được mở tại Ngân hàng TMCP Q – PGĐ Lê Thanh N4, theo lệnh Phong tỏa tài khoản số 426/LPT-ĐCSHS ngày 17/10/2024 của Cơ quan Điều tra-Công an huyện C Cần tiếp tục phong tỏa để bảo đảm việc thi hành án, sau khi bị cáo N thực hiện nộp đầy đủ các khoản theo Quyết định của bản án thì bị cáo N được nhận lại số tiền còn lại trong tài khoản nêu trên và tài khoản trên sẽ được gỡ phong tỏa.
  • + Đối với chiếc điện thoại di động của bị cáo T2 đã sử dụng làm phương thực hiện hành vi phạm tội nhưng sau đó bị cáo đã bán được 400.000đ cho người không quen biết, cơ quan công an không thu giữ được vật chúng. Tuy nhiên, bị cáo đã khai và tại phiên tòa bị cáo khẳng định đã bán chiếc điện thoại đó được số tiền trên nên HĐXX xét cần truy thu số tiền 400.000₫ của bị cáo T2 sung quỹ nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
  • + Đối với chiếc điện thoại Iphone XS Pro max màu vàng cơ quan Công an thu giữ khi khám xét tại nhà bị cáo N. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo xác định điện thoại trên bị cáo có mua cho con gái là cháu Bùi Thị Kim N5 phục vụ việc học tập, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên xét cần trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại Iphone XS Pro max màu vàng theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

[8] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Về những vấn đề khác:

  • - Đối với chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng có khối lượng 43,912g thu giữ tại tủ bếp nhà Lê Thị Hồng N không phải là ma túy, tiền chất sử dụng để sản xuất ma túy. Quá trình điều tra N khai được người đàn ông bán ma tuý ở thành phố Hải Phòng (không rõ tên, địa chỉ) cho. N biết đây không phải là ma túy và không sử dụng vào việc gì nên không có căn cứ để xử lý.
  • - Quá trình điều tra không xác định được người đàn ông bán ma túy cho Lê Thị Hồng N; bà Cao Thị N2 kịp thời trình báo cơ quan Công an; bà Nguyễn Thúy N1 không biết việc T4 tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng trọ do gia đình bà cho thuê; Phạm Thành C1 và Trần Hữu L2 không chuẩn bị công cụ, chất ma tuý, không có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho ai do vậy không có căn cứ xử lý.
  • - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Hữu L2, Phạm Thành C1, Nguyễn Xuân H, Nguyễn Văn T2, Lưu Văn V, Kiên Minh T4, ngày 05/10/2024 Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Xuân H, Lưu Văn V, Kiên Minh T4. Riêng bị cáo T4 được áp dụng thêm điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T2;

Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Thị Hồng N;

Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quy ết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 qui định về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội đối với bị cáo H, V, T4, T2 và N.

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân H, Lưu Văn V, Kiên Minh T4, Nguyễn Văn T2 đều phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Bị cáo Lê Thị Hồng N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 08 (Tám) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 30/9/2024;
    • Xử phạt bị cáo Lưu Văn V 08 (T7) năm 05 (Năm) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 30/9/2024;
    • Xử phạt bị cáo Kiên Minh T4 08 (T7) năm 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 30/9/2024;
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 30/9/2024
    • Xử phạt bị cáo Lê Thị Hồng N 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 01/10/2024;
  3. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
    1. Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) bật lửa gas màu đỏ, tím và xanh; 01 bật lửa ga màu trắng, nhãn hiệu Hoa Việt có kích thước (6,5x2)cm; 01 ví da màu đỏ cũ đã qua sử dụng; 01 túi nilon màu trắng dạng túi zip có chứa nhiều túi nilon nhỏ khác; 01 cân điện tử màu đen kích thước (8x5) cm trên mặt có dòng chữ ASOAI; 01 thẻ ngân hàng M2 mang tên Lê Thị Hồng N; 01 (một) hộp catton mẫu giám định hoàn lại sau giám định của phòng K - Công an tỉnh H số 412/KL-KTHS; 01 (một) hộp catton mẫu giám định hoàn lại sau giám định của V3 - Bộ C3; 01 (một) hộp catton mẫu giám định hoàn lại sau giám định của phòng K - Công an tỉnh H số 413/KL-KTHS; sim điện thoại số 0969.416.xxx; số 0869403180; 0902391888 (đều không còn tiền trong tài khoản sim);
    2. Yêu cầu doanh nghiệp V4, MobiFone và Viễn thông V5 thu hồi các số sim số [...], số 0869403180; 0902391888 theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông và tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền hiện có trong tài khoản thuê bao di động vi phạm pháp luật nêu trên.
    3. Tịch thu phát mại lấy giá trị sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu hồng, ốp màu đen, không lắp sim có số EMEI 355314088125477; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu đen; số IMEI 353919106159423; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu tím, ốp màu đen, có số EMΕΙ 354002109477990; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen; có IMED 355348083047682;
    4. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 600.000 đồng (đang quản lý tại Kho bạc nhà nước huyện C, tỉnh Hải Dương);
    5. Truy thu số tiền 1.000.0000 đồng (Một triệu đồng chẵn) của bị cáo Lê Thị Hồng N sung quỹ nhà nước; Tiếp tục phong tỏa số tiền 1.000.000₫ đồng tại tài khoản số 0902391888 mang tên Lê Thị Hồng N được mở tại Ngân hàng TMCP Q – PGĐ Lê Thanh N4, theo lệnh Phong tỏa tài khoản số 426/LPT-ĐCSHS ngày 17/10/2024 của Cơ quan Điều tra-Công an huyện C để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án. Sau khi truy thu xong số tiền 1.000.000₫ đồng trong tài khoản bị phong tỏa thì tài khoản trên sẽ được gỡ phong tỏa.
    6. Truy thu số tiền 400.000₫ (Bốn trăm ngàn đồng chẵn) của bị cáo Nguyễn Văn T2 sung quỹ Nhà nước;
    7. Trả lại bị cáo Lê Thị Hồng N 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Pro max màu vàng, số IMEI 357265094924717, không lắp sim;

    (Tình trạng và đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/01/2025 giữa Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng).

  4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo (H, V, T2, T4, N) phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo (H, V, T2, T4, N) được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/02/2025)./.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng,
  • - VKSND huyện Cẩm Giàng,
  • - Chi cục THADS huyện Cẩm Giàng,
  • - VKSND tỉnh Hải Dương,
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Hải Dương,
  • - Trại tạm giam-Công an tỉnh Hải Dương,
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương,
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VPTA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trương Thị Tố Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về vụ án hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân Hoàng + Đp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger