Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST.

Ngày 19/02/2025.

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Ngọc Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Hòa

2. Ông Hoàng Văn Ngân

Thư ký phiên toà: Ông Vũ Anh Tùng – Thư ký, Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiệp – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 195/2024/TLST–HNGĐ, ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2024/QĐXXST–HNGĐ, ngày 30 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2025/QÐST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Phạm Thế A - Sinh năm: 1983.
  2. Địa chỉ: N đăng ký thường trú: Tổ C, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nơi ở: Số nhà D, đường N, tổ B, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai, (Có mặt).

  3. Bị đơn: Chị Đỗ Thị Thu T - Sinh năm 1984.
  4. Địa chỉ: N đăng ký thường trú: Tổ C, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nơi ở: Số nhà D, đường N, tổ B, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai, (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nộp ngày 26 tháng 9 năm 2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Phạm Thế A trình bầy:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 22/3/2007 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận được một thời gian, đến năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không có sự tin tưởng lẫn nhau, thiếu sự tôn trọng nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Năm 2018 anh Phạm Thế A đã khởi kiện xin ly hôn với chị Đỗ Thị Thu T tại Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, sau đó lại rút đơn về để chung sống, nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Từ năm 2023 đến nay anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T đã sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Anh Phạm Thế A xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, anh Phạm Thế A yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đỗ Thị Thu T.

Về con chung: Anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T có 02 con chung là cháu Phạm Đình L – Sinh ngày 16/3/2008 và cháu Phạm Ngọc Ly L1 – Sinh ngày 17/12/2014. Khi ly hôn, anh Phạm Thế A yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giải quyết cho anh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai cháu Phạm Đình L và cháu Phạm Ngọc Ly L1 đến đủ 18 tuổi. Anh Phạm Thế A không yêu cầu chị Đỗ Thị Thu T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và nghĩa vụ về tài sản chung: Anh Phạm Thế A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nội dung các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà bị đơn chị Đỗ Thị Thu T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Thu T thừa nhận việc chị và anh Phạm Thế A tự nguyện kết hôn, thời điểm kết hôn và nơi kết hôn như anh Phạm Thế A trình bầy là đúng. Chị Đỗ Thị Thu T xác định, trong quá trình chung sống, từ năm 2018 chị và anh Phạm Thế A có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Phạm Thế A có quan hệ ngoại tình và đã khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xin ly hôn với chị Đỗ Thị Thu T, sau đó lại rút đơn khởi kiện quay về chung sống. Đến tháng 12/2023 anh Phạm Thế A lại tiếp tục có quan hệ ngoại tình. Chị Đỗ Thị Thu T thừa nhận chị và anh Phạm Thế A đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Anh Phạm Thế A xin ly hôn, chị Đỗ Thị Thu T thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn nên chị đồng ý ly hôn với anh Phạm Thế A.

Về con chung: Chị Đỗ Thị Thu T xác định, chị và anh Phạm Thế A có 02 con chung như anh Phạm Thế A trình bầy là đúng. Khi ly hôn, chị Đỗ Thị Thu T yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giải quyết cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai cháu Phạm Đình L và cháu Phạm Ngọc Ly L1 đến đủ 18 tuổi. Chị Đỗ Thị Thu T yêu cầu anh Phạm Thế A phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 3.000.000VNĐ một tháng cho đến khi hai cháu Phạm Đình L và cháu Phạm Ngọc Ly L1 đủ 18 tuổi.

Về tài sản và nghĩa vụ về tài sản chung: Chị Đỗ Thị Thu T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, nguyên đơn anh Phạm Thế A và bị đơn chị Đỗ Thị Thu T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, thống nhất đề nghị Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai công nhận sự thoả thuận về việc thuận tình ly hôn. Về nuôi con chung, nguyên đơn anh Phạm Thế A có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cháu Phạm Đình L cho anh Phạm Thế A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến đủ 18 tuổi. Giao cháu Phạm Ngọc Ly L1 cho chị Đỗ Thị Thu T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến đủ 18 tuổi. Anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà, phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng tại phiên toà là đúng theo các quy định của pháp luật, đảm bảo đúng trình tự luật định, không vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ đảm bảo đúng pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng khoản 4, Điều 147; Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 55; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T.

Về nuôi con: Đề nghị, giao cháu Phạm Đình L – Sinh ngày 16/3/2008 cho anh Phạm Thế A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến đủ 18 tuổi và giao cháu Phạm Ngọc Ly L1 – Sinh ngày 17/12/2014 cho chị Đỗ Thị Thu T, trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến đủ 18 tuổi. Anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ngoài ra còn đề nghị tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về hôn nhân: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến tranh tụng tại phiên toà đã xác định: Anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T đăng ký kết hôn vào ngày 22/3/2007 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Quá trình chung sống, anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T có xảy ra mâu thuẫn từ năm 2018. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T đều nghi ngờ nhau có quan hệ ngoại tình, vợ chồng không còn sự tôn trọng nhau. Năm 2018 anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T đã khởi kiện xin ly hôn tại Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai sau đó anh Phạm Thế A lại rút đơn quay về chung sống, nhưng quan hệ hôn nhân không được cải thiện. Anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, không quan tâm đến nhau. Tại phiên toà, anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T đều có yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, công nhận sự thuận tình ly hôn.
  2. Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân của anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn tại phiên toà của anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, cần công nhận việc thuận tình ly hôn của anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T theo quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình và Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự.

  3. [2] Về nuôi con: Khi ly hôn, tại phiên toà nguyên đơn anh Phạm Thế A yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giải quyết cho anh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Phạm Đình L – Sinh ngày 16/3/2008 đến đủ 18 tuổi. Đề nghị giao cháu Phạm Ngọc Ly L1 – Sinh ngày 17/12/2014 cho chị Đỗ Thị Thu T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến đủ 18 tuổi. Anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bị đơn chị Đỗ Thị Thu T đề nghị giao cháu Phạm Đình L – Sinh ngày 16/3/2008 và cháu Phạm Ngọc Ly L1 – Sinh ngày 17/12/2014 cho chị Đỗ Thị Thu T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến đủ 18 tuổi. Yêu cầu anh Phạm Thế A phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 3.000.000VNĐ/tháng.
  4. Hội đồng xét xử xét thấy: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng phải đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên. Trong vụ án này, mặc dù cháu Phạm Đình L và cháu Phạm Ngọc Ly L1 có nguyện vọng được ở với chị Đỗ Thị Thu T. Tuy nhiên hiện nay hai cháu đang sống ổn định cùng anh Phạm Thế A. Anh Phạm Thế A có nhà ở ổn định, có thu nhập ổn định hàng tháng (Công tác tại Điện lực Bát Xát thu nhập 12.000.000VNĐ/tháng). Chị Đỗ Thị Thu T sau khi ly hôn chưa có nơi ở ổn định và hiện đang là lao động tự do, mức thu nhập không ổn định hàng tháng. Vì vậy, không thể giao cả hai con chung cho chị Đỗ Thị Thu T chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Để đảm bảo quyền nuôi con và việc phát triển về tâm sinh lý của các cháu, cần giao con chung cháu Phạm Đình L là con trai cho anh Phạm Thế A chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Giao cháu Phạm Ngọc Ly L1 là con gái cho chị Đỗ Thị Thu T chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình.

  5. [3] Về cấp dưỡng: Do đã giao cho chị Đỗ Thị Thu T và anh Phạm Thế A mỗi người nuôi một người con chung, nên chị Đỗ Thị Thu T và anh Phạm Thế A không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp.
  6. [4] Về tài sản chung và quyền, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  7. [5] Về án phí: Anh Phạm Thế A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4, Điều 147; Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 55; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và Gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T.
  2. Quan hệ hôn nhân của anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

  3. Về nuôi con chung: Giao con chung, cháu Phạm Đình L – Sinh ngày 16/3/2008 cho anh Phạm Thế A trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến đủ 18 tuổi. Giao con chung, cháu Phạm Ngọc Ly L1 – Sinh ngày 17/12/2014 cho chị Đỗ Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến đủ 18 tuổi.
  4. Anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Anh Phạm Thế A và chị Đỗ Thị Thu T, có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.

  5. Về án phí: Anh Phạm Thế A phải chịu 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) khoản tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000773 ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn anh Phạm Thế A và bị đơn chị Đỗ Thị Thu T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND thành phố Lào Cai (02);
  • - THADS thành phố Lào Cai;
  • - UBND phường Bình Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Ngọc Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Pham The A-Đo Thi Thu T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger