|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/ST-HNGĐ
Ngày 19 tháng 02 năm 2025
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lệ Hằng.
Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thúy H và bà Đặng Huyền Sâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 159/2024/TLST–HNGĐ ngày 31/12/2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lê Thị H – Sinh năm: 1996
Trú tại: Thôn V, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa – Vắng mặt (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
* Bị đơn: Anh Vi Xuân H – Sinh năm: 1995
Trú tại: Bản V, xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị H vắng mặt, tuy nhiên, theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lê Thị H trình bày:
Chị Lê Thị H và anh Vi Xuân H kết hôn với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết tại UBND xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc và sinh được 01 con chung. Đến năm 2017, vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên xảy ra mâu thuẫn. Mặc dù chị H đã khuyên bảo anh H để vợ chồng hòa thuận cùng nhau xây dựng gia đình nhưng anh H không nghe, nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Vi Xuân H.
Về con chung: Có 01 con chung là Vi Lê Huyền H – Sinh ngày: 09/01/2016. Từ khi ly thân con ở với anh H. Nay ly hôn chị H có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, nếu anh H cũng có nguyện vọng nuôi con thì chị H cũng đồng ý.
Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa, bị đơn anh Vi Xuân H vắng mặt, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, anh Vi Xuân H trình bày:
Anh Vi Xuân H và chị Lê Thị H kết hôn với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh được 01 người con chung tên là Vi Lê Huyền H, sinh ngày: 09/01/2016. Đến năm 2017 có xảy ra mâu thuẫn do không hợp nhau, nên vợ chồng đã ly thân đến nay. Hiện tại vợ chồng không còn tình cảm với nhau, chị H làm đơn ly hôn thì anh H đồng ý ly hôn với chị H.
Về con chung: Anh H có nguyện vọng nuôi con vì từ khi ly thân, con ở với anh H. Anh H không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, cháu Vi Lê Huyền H trình bày: Bố cháu là Vi Xuân H, mẹ cháu là Lê Thị H. Nay bố mẹ ly hôn cháu thích ở với bố.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và về việc giải quyết vụ án như sau:
Việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng trình tự tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng và nghĩa vụ của mình và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Nên Toà án xét xử vắng mặt các đương sự là có căn cứ. Như vậy, vụ án đã được thụ lý, điều tra và xét xử đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Vi Xuân H.
Về nuôi con chung: Giao con chung là Vi Lê Huyền H – Sinh ngày: 09/01/2016 cho anh Lê Xuân H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh Vi Xuân H không yêu cầu chị Lê Thị H; Về tài sản chung và nợ: Không xem xét; Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, bị đơn cư trú tại xã H, huyện A, tỉnh Nghệ An. Nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Nghệ An quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Vi Xuân H kết hôn với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Hôn nhân tự nguyện, hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc và sinh được 01 người con chung, đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chị H, anh H đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Trong quá trình sống ly thân, giữa chị Lê Thị H và anh Vi Xuân H không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Nay tình cảm không còn, chị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh H. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Vi Xuân H cũng đồng ý ly hôn với chị Lê Thị H.
Xét thấy mục đích của hôn nhân vợ chồng là cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững, cùng nhau chăm lo cuộc sống. Tuy nhiên, giữa chị H và anh H đã sống ly thân, không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau, tình nghĩa vợ chồng không còn. Do đó, hôn nhân giữa chị H và anh H lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp với khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình và cũng phù hợp với ý kiến của anh H là chấp nhận yêu cầu ly hôn với chị H.
[2.2] Về nuôi con chung: Vợ chồng chị Lê Thị H và anh Vi Xuân H có 01 con chung là Vi Lê Huyền H – Sinh ngày: 09/01/2016. Nay ly hôn, chị H và anh H đều có nguyện vọng nuôi con. Do anh H cũng có nguyện vọng nuôi con nên chị H đồng ý để anh H nuôi con. Vì vậy cần ghi nhận ý kiến của các đương sự, giao con Vi Lê Huyền H cho anh Vi Xuân H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình và cũng phù hợp với ý kiến của các đương sự và nguyện vọng của cháu Vi Lê Huyền H.
[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Vi Xuân H không yêu cầu chị Lê Thị H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung và nợ: Chị Lê Thị H và anh Vi Xuân H không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.5]. Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị H được ly hôn với anh Vi Xuân H.
- Về nuôi con chung: Giao con chung là Vi Lê Huyền H – Sinh ngày: 09/01/2016 cho anh Vi Xuân H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Vi Xuân H không yêu cầu chị Lê Thị H cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Chị Lê Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn (Đã nộp theo biên lai số 0008017 ngày 31/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện A, tỉnh Nghệ An).
* Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Lệ Hằng |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Phạm Thị Thúy H | H Thị Lệ H |
| Đặng Huyền Sâm |
Bản án số 11/2025/ST-HNGĐ ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 11/2025/ST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thi H Ly hôn Vi Xuân H
