|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/HS-PT Ngày 18 - 02 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Mai.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:
Bà Mầu Mai Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 140/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức D, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 84/2024/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Đức D, sinh năm 2004; tại Vĩnh Phúc; giới tính: Nam; địa chỉ: Thôn Đ, xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Công nhân; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Đức L và con bà Nguyễn Thị H; vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không;
Về nhân thân: Ngày 04/02/2023, bị Công an huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt hành chính 500.000đ, do Vi phạm luật giao thông đường bộ, đã nộp phạt ngày 28/4/2023;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/4/2024, đến ngày 15/4/2024 áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, tại ngoại ở địa phương, có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo sau đó đã rút đơn kháng cáo Tòa án đã ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm và những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 07/4/2024, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn T Nguyễn Văn S, Nguyễn Đức D đến nhà Nguyễn Duy T1, tại Tổ C, phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc để ăn cơm, uống rượu.
Sau khi ăn uống xong, khoảng 13 giờ cùng ngày 07/4/2024; Nguyễn Văn H1 có hành vi rủ và được Nguyễn Văn S, Nguyễn Đức D, Nguyễn Văn T đồng ý đi lên tầng hai nhà T1 để đánh bạc ăn tiền. Nguyễn Đức H2 cầm 01 bộ bài tu lơ khơ để ở bàn uống nước ở tầng 1 nhà T1 mang lên tầng 2 để đánh bạc. Vì Nguyễn Văn T và Nguyễn Đức D mỗi người chỉ có 250.000đồng, nên đã hỏi vay tiền của T1 để đánh bạc. Nguyễn Duy T1 đồng ý cho T và D mỗi người vay 1.000.000đ để đánh bạc, nhưng T1 không thu tiền lãi từ việc cho vay tiền.
Sau đó Nguyễn Văn S, Nguyễn Đức D, Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Văn T cùng nhau ngồi trên 01 chiếc thảm đã được trải sẵn trên nền nhà tầng hai nhà T1, thống nhất đánh sâm ăn tiền với mức cược 5.000đ/1 lá bài, treo là 70.000đồng, sâm là 100.000đồng, bắt tứ quý là 70.000đồng, ai hô sâm trước và bị người khác bắt được thì phải trả 400.000đồng.
Cách thức chơi là dùng 01 bộ bài tu lơ khơ có 52 quân, chia mỗi người 10 quân, ai đánh hết 10 quân trước thì người đó thắng, những người còn lại thua và ai còn bao nhiêu quân bài sẽ nhân với 5.000đ/01 quân, ra số tiền phải trả cho người thắng. Nếu người nào không đánh được lá bài nào trong 01 lần chơi gọi là “treo” thì phải trả cho người thắng 70.000đồng; người nào báo sâm mà không ai bắt được thì những người chơi còn lại là thua phải trả cho người được sâm 100.000đồng; người nào đánh quân “2” bị bắt tứ quý thì phải trả 70.000đồng. Nếu ai báo sâm trước mà bị người khác bắt sâm thì phải trả cho người bắt sâm 400.000đ. Nguyễn Văn S, Nguyễn Đức D, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn T, đánh bạc đến khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày 07/4/2024, thì bị Công an thành phố P bắt quả tang. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền đánh bạc là 5.050.000đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ (52 quân); 01 chiếc thảm bằng nỉ màu xám;
* Tổng số tiền các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc là 5.050.000đ, cụ thể:
Nguyễn Văn H1 sử dụng 1.750.000đồng, Nguyễn Văn T là 1.250.000đồng, Nguyễn Đức D là 1.250.000 đồng và Nguyễn Văn S sử dụng là 800.000đồng. Đối với Nguyễn Duy T1, tuy không trực tiếp đánh bạc và không thu tiền hồ của các bị cáo đánh bạc tại nhà mình. Nhưng T1 mặc dù biết rõ bị cáo H1, D, T và S đánh bạc ăn tiền, nhưng vẫn nhất trí để cho họ đánh bạc tại nhà mình. Ngoài ra T1 còn cho bị cáo T và D mỗi người vay 1.000.000đồng để đánh bạc;
* Vật chứng bị thu giữ:
Thu giữ của Nguyễn Văn H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S màu đen; của Nguyễn Đức D 01 điện thoại di động Iphone XS MAX màu đen; của Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 PROMAX màu ghi xám và của Nguyễn Văn S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu ghi, tất cả đều đã qua sử dụng.
Thu giữ tại chiếu bạc số tiền đánh bạc là 5.050.000đồng, 01 chiếc thảm bằng nỉ và 01 bộ bài tu lơ khơ 52 quân.
Với nội dung nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2024/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D 07 (B) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án; được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/4/2024 đến ngày 15/4/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác; phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo đối với các bị cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/8/2024 bị cáo Nguyễn Đức D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức D. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 84/2024/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 02 (hai) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đức D cho ủy ban nhân dân xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức D làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét giải quyết. Ngày 10/02/2025 bị cáo Nguyễn Đức D có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa với lý do sức khỏe không tốt, không thể tham dự phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo. Xét thấy lý do xin vắng mặt tại phiên tòa là chính đáng, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo.
[2]. Về nội dung: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được cơ quan điều tra thu thập khách quan, đúng pháp luật. Từ đó có đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ 14 giờ 30 phút đến 15 giờ 10 phút ngày 07/4/2024, tại nhà ở của Nguyễn Duy T1 ở tổ C phường X, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn T, Nguyễn Đức D, Nguyễn Văn S đã có hành vi “đánh S1 ăn tiền”, với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 5.050.000đồng. Nguyễn Văn H1 là người khởi xướng, rủ rê và trực tiếp đánh bạc; Nguyễn Văn T, Nguyễn Đức D và Nguyễn Văn S là đồng phạm trực tiếp đánh bạc ăn tiền cùng bị cáo H1. Bị cáo Nguyễn Duy T1 có hành vi cho bị cáo T và D vay tiền để đánh bạc tại nhà ở của T1, nhưng T1 không thu tiền lãi từ việc cho vay tiền và không thu tiền hồ.
Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Đánh bạc” là có căn cứ.
[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an địa phương. Do vậy, cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo D 07 tháng tù về tội Đánh bạc là có căn cứ không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt.
Về nhân thân trước khi phạm tội bị cáo có hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ vào ngày 22/8/2022 với hành vi vi phạm là: “Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe moto có dung tích xilanh từ 50m³ trở lên gây tai nạn giao thông”. Thời điểm vi phạm bị cáo mới 17 tuổi 10 tháng 8 ngày điều khiển xe máy tự gây tai nạn cho bản thân. Ngày 04/02/2023 bị cáo bị Công an huyện B bị xử phạt hành chính 500.000đ và đã nộp phạt vào ngày 24/8/2023.
Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Gia đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo còn xuất trình thêm tài liệu về việc bà ngoại là Ngô Thị L1 là người có công với cách mạng, ông ngoại là Nguyễn Văn V được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất.
Như vậy mặc dù trước khi phạm tội bị cáo có bị xử phạt hành chính nhưng lỗi vi phạm không phải cùng loại tội. Số tiền bị cáo dùng đánh bạc ít (1.250.000đồng), tổng số tiền đánh bạc của các bị cáo là 5.050.000đ. Bản thân bị cáo tuổi đời còn trẻ, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn do trước đó bị cáo tự gây tai nạn giao thông dẫn đến chấn thương lách, thận, tràn khí màng phổi hai bên, gãy kín xương cánh tay trái hiện nay sức khỏe chưa hồi phục. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo D 07 tháng tù về tội Đánh bạc là có căn cứ nhưng với các tình tiết giảm nhẹ như trên xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo xử phạt bị cáo 7 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[5]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6]. Về án phí: Bị cáo D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức D. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 84/2024/HS-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức D 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 02 (hai) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đức D cho ủy ban nhân dân xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Thúy Mai |
Bản án số 11/2025/HS-PT ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự phúc thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 11/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận 01 phần kháng cáo
