|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
-----
Bản án số: 11/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 02 -2025
V/v "Ly hôn, nuôi con chung"
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Thanh Hải
Bà Hà Thị Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang– Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 66/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024 về "Ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXX-ST ngày 22 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1995
Nơi thường trú trước khi xuất cảnh: Xóm C, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên
Hiện đang ở: Số E, số H, ngõ B, đoạn 1 đường B, quận Đ, thành phố T, Đài Loan. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
-
Bị đơn: Anh Lý Văn K, sinh năm 1988
Nơi thường trú: Xóm C, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Đỗ Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lý Văn K đăng ký kết hôn năm 2016 tại Ủy ban nhân xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc, hòa thuận. Từ năm 2020, vợ chồng này sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có sự thấu hiểu, đồng cảm với nhau. Vì mâu thuẫn quá trầm trọng, cuối năm 2020 chị đã chuyển ra ngoài sống và làm việc, anh chị ly thân từ đó tới nay. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn, hòa giải mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Cuối năm 2022, chị T xuất cảnh sang Đài Loan lao động. Vì khoảng cách xa xôi, chị và anh K hầu như không còn liên lạc. Nay chị T xác định tình cảm không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lý Văn K.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lý Nhất M, sinh ngày 21/5/2016. Hiện nay cháu M đang ở cùng với anh K tại xóm C, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Khi ly hôn chị T đề nghị giao con chung cho anh K trực tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng, chị tự nguyện cấp dưỡng ba triệu đồng mỗi tháng cho con chung kể từ khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai bị đơn anh Lý Văn K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Thị đăng K1 kết hôn tại UBND xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Anh xác định cuộc sống vợ chồng giữa anh và chị Thị K2 hòa hợp, không có tiếng nói chung. Cuối năm 2022 chị T xuất khẩu lao động, từ đó tới nay anh chị không liên lạc với nhau. Việc chị T làm đơn xin ly hôn với anh, sự việc bất ngờ, anh đề nghị chị T chủ động liên hệ với anh để thống nhất quan điểm trước khi ly hôn hoàn thành mọi thủ tục. Tại phiên toà, anh K xác định tình cảm vợ chồng không còn, nhất trí ly hôn với chị T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lý Nhất M, sinh ngày 21/5/2016. Hiện nay cháu M đang ở cùng với anh K. Sau khi ly hôn, anh muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M và nhất trí với mức cấp dưỡng 03 triệu đồng/tháng cho cháu M và chị T cấp dưỡng theo năm một.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị T, cho chị T được ly hôn anh Lý Văn K. Về con chung: Giao cháu Lý Nhất M, sinh ngày 21/5/2016 cho anh K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác . Về cấp dưỡng: Chị T cấp dưỡng nuôi con chung cho anh K 3.000.000 đồng/ 01 tháng cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi. Tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Đỗ Thị T là nguyên đơn có nơi thường trú trước khi đi nước ngoài ở Xóm C, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Hiện đang ở số 05, số H, ngõ B, đoạn 1 đường B, quận Đ, thành phố T, Đài Loan. Anh Lý Văn K là bị đơn có nơi thường trú tại: Xóm C, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. Đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ của chị T đều có chứng thực của Văn phòng K3 tại Đ, Đài Loan. Do vậy, có đủ cơ sở xác định, nội dung các văn bản của chị Đỗ Thị Thị N gửi cho Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là đúng ý chí, nguyện vọng của chị T. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.Vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Chị T có đơn xin xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xử xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa chị Đỗ Thị T và anh Lý Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, chị T xác định là do vợ chồng đã sống ly thân từ trước, hiện nay chị Thị Đ lao động tại Đài Loan, mỗi người một nơi khiến vợ chồng không còn tiếng nói chung, mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn. Chị Thị xin ly hôn, anh K nhất trí. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đỗ Thị T và anh Lý Văn K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn với anh K là phù hợp thực tế và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.
[3] Về con chung: Chị Đỗ Thị T và anh Lý Văn K có 01 con chung là Lý Nhất M, sinh ngày 21/5/2016. Khi ly hôn chị T đề nghị giao con chung cho anh K trực tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Khoa nhất trí, cháu M có ý kiến muốn tiếp tục được ở cùng với anh K. Do đó cần giao cháu Lý Nhất M, sinh ngày 21/5/2016 cho anh K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác là phù hợp với thực tế, đảm bảo đúng các quy định tại Điều 81; 82; 83 của Luật hôn nhân gia đình Việt Nam. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Thị tự N1 cấp dưỡng nuôi con chung cho anh K là 3.000.000 đồng/tháng đến khi cháu M đủ 18 tuổi. Anh Khoa nhất trí. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện nêu trên của chị T. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự xác định không có. Hội đồng xét xử không giải quyết. Án phí: Chị Thị phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000₫ (Ba trăm nghìn) án phí về việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
[4] Về đường lối giải quyết vụ án được đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 28; 37; khoản 2 Điều 38; Điều 147; Điều 207; Khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51;56; 81; 82; 83 Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đỗ Thị T đối với anh Lý Văn K.
-
Về hôn nhân:
Cho chị Đỗ Thị T được ly hôn anh Lý Văn K
-
Về con chung:
Giao cháu Lý Nhất M, sinh ngày 21/5/2016 cho anh Lý Văn K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Chị Thị có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
-
Về cấp dưỡng nuôi con:
Chị Đỗ Thị T cấp dưỡng nuôi con chung Lý Nhất M, sinh ngày 21/5/2016 cho anh Lý Văn K số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng)/ 01 tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Thời hạn cấp dưỡng nuôi con chung: Tính từ ngày bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật.
-
Về tài sản chung, nợ chung:
Các đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không giải quyết.
-
Án phí:
Chị Đỗ Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí về việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn đã nộp, biên lai số 0000218 ngày 27/11/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Chị Đỗ Thị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án. Anh Lý Văn K được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Lê Thị Hồng Phương |
Bản án số 11/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 11/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T VÀ K
