Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày 18/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Tuyết
Thẩm phán: Phạm Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Định
Bà Nguyễn Thị Tuyết
Bà Phạm Thị Nguyên

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Hữu Thắng - Thư ký Toà án nhân tỉnh Hải Dương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hà N – sinh ngày 24 tháng 11 năm 1986; Nơi sinh: Hải Dương; Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12 ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn N1 và bà Dương Thị T; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/2011/HSST ngày 18/02/2011 của TAND huyện Kim Thành xử phạt Nguyễn Hà N 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 26/5/2011 chấp hành xong hình phạt tù, ngày 13/6/2011 chấp hành xong phần thi hành án dân sự của bản án.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 21/3/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Chu Thanh N2 – Luật sư thuộc Văn phòng L, Đoàn luật sư tỉnh H; địa chỉ: Số A đường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (Có mặt).

* Bị hại: Ông Cao Văn V, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; đều ở địa chỉ: Thị tứ Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương (Đều có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Lương Thị T1, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương.
  2. Chị Dương Thị Thu H1, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện K, tỉnh Hải Dương.
  3. Chị Hoàng Thị H2, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn Q, xã C, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn.
  4. Anh Hoàng Văn T2, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện V, tỉnh Lạng Sơn.
  5. Anh Lương Văn T3, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
  6. Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương.

(Chị T1 có mặt, những người còn lại đều vắng mặt)

* Người làm chứng: Các anh Nguyễn Danh Ú, sinh năm 1986; Dư Đức Đ, sinh năm 1994; Chu Tiến M, sinh năm 1981; Lê Văn H3, sinh năm 1990; Nguyễn Văn T5, sinh năm 1984; Bà Phạm Thị X, sinh năm 1969; Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1988 (Đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09/02/2022, Nguyễn Hà N thế chấp xe ô tô nhãn hiệu NISSAN, đăng ký biển số 34C- 321.04 tại Ngân hàng V1 - Chi nhánh Sở giao dịch quận H, thành phố Hà Nội vay số tiền 760.000.000 đồng; Ngân hàng quản lý chứng nhận đăng ký xe ô tô và cấp cho N 01 giấy biên nhận thế chấp và giao xe ô tô cho N quản lý, sử dụng. Đến tháng 9/2022, N vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền gốc và tiền lãi nên Ngân hàng không cấp giấy biên nhận thế chấp mới cho N. Tháng 11/2022, N lên mạng internet thuê người làm giả giấy đăng ký xe ô tô hết 3.500.000 đồng. Ngày 06/3/2023, do cần tiền để trả nợ và chi tiêu, N mang xe ô tô đến gặp ông Cao Văn V, ở tại Thị tứ Đ, xã Đ, huyện K đặt vấn đề vay ông V 600.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận: Thời gian vay 02 tháng, lãi suất 01%/tháng, N để lại xe ô tô biển số 34C – 321.04 cùng giấy đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định xe cho ông V. Sau khi nhận tiền, N đã trả ông V 36.000.000 đồng; số tiền còn lại N trả nợ và chi tiêu, không trả cho ông V theo thỏa thuận, đồng thời cắt liên lạc với ông V. Đến tháng 5/2023, ông V tìm cách bán xe ô tô biển số 34C- 321.04 thì phát hiện giấy đăng ký xe ô tô là giả và được vợ N là chị Lương Thị T1 cho biết xe ô tô biển số 34C- 321.04 đang thế chấp tại Ngân hàng V1 nên ông V đã làm đơn tố cáo N đến cơ quan Công an.

Về việc thu giữ, quản lý vật chứng, Kết luận giám định và trách nhiệm dân sự: Ngày 11/8/2023, ông V giao nộp cho Cơ quan Công an 01 xe ô tô nhãn hiệu NISSAN, biển số 34C - 321.04 cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô mang tên Nguyễn Hà N. Ngày 16/7/2024, bà Nguyễn Thị H giao nộp 01 giấy vay tiền đề ngày 06/3/2023, được quản lý trong hồ sơ vụ án. Ngày 20/11/2024, Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh H đã trả lại xe ô tô biển số 34C - 321.04 cùng giấy chứng nhận đăng ký ô tô mang tên Nguyễn Hà N, giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô cho Công ty cổ phần M1 (là đơn vị mua nợ của ngân hàng V1)

Kết luận giám định số 6819/KL-KTHS ngày 11/10/2023 của V2 Bộ C xác định: Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 34017963, ngày 10/2/2022, ghi tên chủ xe Nguyễn Hà N là Chứng nhận đăng ký xe ô tô giả (gồm: mẫu in, hình dấu, chữ ký).

Ông Cao Văn V và bà Nguyễn Thị H yêu cầu Nguyễn Hà N phải trả lại số tiền 564.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 94/CT-VKS- P1 ngày 26 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Hà N về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hà N phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Về áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; khoản 3 Điều 341; Điều 38; Điều 48; điểm a, s khoản 1 Điều 51; Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hà N từ 12 năm đến 12 năm 06 tháng tù về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về Tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo N phải chấp hành từ 15 năm đến 16 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2024; Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo N có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại sau khi đối trừ số tiền 06 người có nghĩa vụ liên quan có trách nhiệm hoàn trả bị hại theo quy định. Ngoài ra, còn đề nghị xem xét giải quyết về vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo theo quy định.

* Bị cáo N khai nhận hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

* Người bào chữa cho bị cáo N: Đồng ý về tội danh, điều khoản áp dụng đối với các bị cáo N như luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình của bị cáo gặp khó khăn, con còn nhỏ để cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất có thể.

* Bị hại đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật và yêu cầu bị cáo cùng những người có nghĩa vụ liên quan phải có trách nhiệm trả lại số tiền đã bị chiếm đoạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan điều tra, truy tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Qua việc hỏi làm rõ tại phiên tòa và các tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án thì thấy: Sau khi chiếm đoạt tài sản (tiền) của bị hại, bị cáo N đã dùng để chi tiêu cá nhân và một số người liên quan đã được bị cáo trả tiền qua việc chuyển khoản để trả nợ vay, trả tiền do bị cáo được nhận từ các giao dịch dân sự trước đó nên theo quy định những người này được xác định là những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án (được xác định tại mục người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại bản án theo thứ tự từ 1 đến 6); đối với những người còn lại theo danh sách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại quyết định đưa vụ án ra xét xử, được xác định là người làm chứng là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật.

[1.3] Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2; Tòa án đã hoãn phiên tòa nên HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi: Lời khai của bị cáo N tại phiên tòa và trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định: Tháng 11/2022, Nguyễn Hà N mua giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả biển số 34C- 321.04 để sử dụng. Do cần tiền chi tiêu cho bản thân, ngày 06/3/2023, tại xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương, N cầm cố xe ô tô nhãn hiệu NISSAN biển số 34C- 321.04 và giấy chứng nhận đăng ký giả để chiếm đoạt của ông V và bà H số tiền là 600.000.000 đồng.

[3] Để có tiền chi tiêu cho bản thân, N đã lợi dụng việc bị hại tin tưởng xe ô tô của N có đủ giấy tờ và được giao dịch dân sự theo quy định nên N đã thực hiện hành vi gian dối dùng giấy đăng ký xe ô tô giả để chiếm đoạt tài sản (tiền) của ông V, bà H là 600.000.000 đồng. Như vậy, bị cáo N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chiếm đoạt tài sản với số tiền là 600.000.000 đồng và hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; bị cáo N sử dụng tài liệu giả để thực hiện tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Hà N về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật, đúng người đúng tội.

[4] Các hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của bị hại; xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường và uy tín của cơ quan Nhà nước, làm mất an ninh trật tự xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi thực hiện là vi phạm pháp luật hình sự nhưng do vụ lợi vẫn cố ý thực hiện. Do vậy cần phải có mức án tương xứng, phù hợp dành cho bị cáo đối với hai tội bị cáo đã phạm mới có tác dụng giáo dục riêng và góp phần vào việc phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5.1] Về nhân thân: Bị cáo là người không chấp hành pháp luật, năm 2011 TAND huyện Kim Thành xử phạt N 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

[5.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo N không phải chịu tình tiết tăng nặng tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[5.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo N trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; sau khi phạm tội đã 02 lần trả lại bị hại được tổng số tiền là 36.000.000 đồng nên theo quy định bị cáo N được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt:

[7.1] Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và hậu quả tội phạm bị cáo đã gây ra. HĐXX thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với các tội mà bị cáo đã phạm theo đúng quy định, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian phù hợp mới có tác dụng trừng trị, giáo dục để bị cáo sống biết chấp hành pháp luật và tổng hợp hình phạt đối với bị cáo N theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật Hình sự.

[7.2] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo N bị xử phạt tù, không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng, còn phải hoàn trả lại tiền cho bị hại nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại, những người liên quan, người làm chứng, cùng các tài liệu được xác minh trong hồ sơ vụ án và được hỏi làm rõ tại phiên tòa thì thấy, đối với số tiền 600.000.000 đồng bị cáo N chiếm đoạt của các bị hại, hiện có căn cứ xác định đã hoàn trả được 36.000.000 đồng, số tiền còn lại 564.000.000 đồng bị cáo chưa hoàn trả, bị hại yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật, HĐXX thấy rằng:

[8.1] Đối với số tiền 319.050.000 đồng, bị cáo sau khi chiếm đoạt của bị hại, hiện có căn cứ xác định bị cáo đã dùng chi tiêu cho cá nhân bị cáo nên cần buộc bị cáo N phải có trách nhiệm hoàn trả bị hại số tiền này là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[8.2] Đối với số tiền còn lại là 244.950.000 đồng (564.000.000 đồng- 319.050.000 đồng= 244.950.000 đồng), căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, lời trình bày xác thực của những người liên quan, hiện có căn cứ xác định sau khi chiếm đoạt tiền của bị hại, bị cáo N đã chuyển khoản cho những người liên quan với những lý do chuyển tiền như sau:

  • Ngày 06/3/2023, N chuyển cho chị Lương Thị T1 20.000.000 đồng và ngày 08/3/2023 chuyển là 3.950.000 đồng, đều với mục đích để chị T1 chi dùng cho sinh hoạt gia đình của bị cáo. Tổng cộng chị T1 nhận là 23.950.000 đồng (BL: 299 đến 300 và 410 đến 411).
  • Ngày 06/3/2023, N chuyển trả nợ cho chị Dương Thị Thu H1 100.000.000 đồng (BL: 289 đến 290).
  • Ngày 09/3/2023, N chuyển cho chị Hoàng Thị H2 20.000.000 đồng để thanh toán trả tiền do chị H2 trước đó đã ứng cho do N đã nhận làm thủ tục cấp giấy phép xây dựng cây xăng cho chị H2 nhưng không làm được (BL: 426 đến 427).
  • Ngày 06/3/2023, N chuyển cho anh Hoàng Văn T2 (thông qua anh Đàm Khắc D) là 60.000.000 đồng để thanh toán trả cho anh T2 số tiền do N đã nhận làm thủ tục cấp giấy phép xây dựng cây xăng cho anh T2 nhưng không làm được (BL: 424).
  • Ngày 06/3/2023, N chuyển cho anh Lương Văn T3 40.000.000 đồng để thanh toán trả cho anh T3 số tiền do N đã nhận làm thủ tục cấp giấy phép xây dựng cây xăng cho anh T2 nhưng không làm được (BL: 428 đến 429).
  • Ngày 06/3/2023, N chuyển trả nợ cho anh Nguyễn Văn T4 1.000.000 đồng (BL: 416 đến 417)

Hội đồng xét xử thấy rằng, đối với số tiền 244.950.000 đồng bị cáo N đã chuyển khoản cho 06 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nêu trên được bị cáo dùng tiền phạm tội mà có. Theo quy định tại Điều 167 của Bộ luật Dân sự, trường hợp này chủ sở hữu tài sản (bị hại) có quyền đòi lại số tiền từ những người mà bị cáo đã chuyển đến (tiền do phạm tội mà có), tại phiên tòa bị hại yêu cầu những người liên quan phải hoàn trả tiền đã nhận từ bị cáo N. Căn cứ Điều 167, Điều 579, Điều 580, Điều 582 của Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử thấy cần buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nêu trên phải có trách nhiệm hoàn trả lại cho các bị hại số tiền mà bị cáo chiếm đoạt của bị hại là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Quan hệ dân sự giữa bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan do các bên tự thỏa thuận giải quyết, nếu có tranh chấp thì có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

[9] Về vật chứng: Đối 01 giấy vay tiền đề ngày 06/3/2023 và 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô giả, cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án theo quy định của pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo N bị kết tội và có nghĩa vụ hoàn trả tiền cho bị hại tiền nên phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.

[11] Trong vụ án này:

[11.1] Đối với chị Lương Thị T1, anh Nguyễn Xuân T6 không biết N phạm tội nên không phải chịu trách nhiệm hình sự là có căn cứ theo quy định của pháp luật nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[11.1] Đối với những người nhận tiền chuyển khoản của bị cáo liên quan trong các giao dịch dân sự, gồm: Lương Thị T1, Nguyễn Văn T5, Dương Thị Thu H1, Nguyễn Danh Ú, Dư Đức Đ, Phạm Thị X, Hoàng Thị H2, Hoàng Văn T2, Lương Văn T3, Chu Tiến M, Lê Văn H3, Nguyễn Văn T4, Nguyễn Thị Y, khi nhận tiền của N nhưng không biết số tiền trên do N chiếm đoạt của ông V nên không đồng phạm với N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hoặc có dấu hiệu tội phạm khác theo quy định của Bộ luật hình sự nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết trong vụ án này là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm a khoản 3 Điều 341; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 48; Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Điều 117; Điều 122; Điều 127; Điều 131; Điều 167; Điều 288; Điều 579; Điều 580; Điều 582 của Bộ luật Dân sự. khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  2. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hà N phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và T7 sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
  3. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hà N 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 03 (ba) năm tù về T7 sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Hà N phải chấp hành là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2024.
  4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
  5. Về trách nhiệm dân sự, xử:
    • - Buộc bị cáo Nguyễn Hà N phải có trách nhiệm thanh toán hoàn trả lại cho ông Cao Văn V và bà Nguyễn Thị H là 319.050.000 đồng (Ba trăm mười chín triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
    • - Buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải có trách nhiệm thanh toán hoàn trả lại ông Cao Văn V và bà Nguyễn Thị H số tiền cụ thể như sau: Chị Lương Thị T1 là 23.950.000 đồng (Hai mươi ba triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng); chị Dương Thị Thu H1 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng); chị Hoàng Thị H2 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng); anh Hoàng Văn T2 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng); anh Lương Văn T3 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng); anh Nguyễn Văn T4 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)
    • Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền nêu trên cho đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất do chậm thi hành được quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
  6. Về vật chứng: Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 giấy vay tiền đề ngày 06/3/2023 và 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô giả.
  7. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hà N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 15.952.500 đồng (Mười lăm triệu chín trăm năm mươi hai nghìn năm trăm đồng)
  8. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết có quyền kháng cáo phần quyền lợi liên quan trong bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án phần quyền lợi liên quan trong bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Vụ GĐKT I- TANDTC;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng HSNV- CA tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Sở TP tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo, người bào chữa;
  • - Bị hại; Người có qlnv liên quan;
  • - Lưu Tòa; Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger