|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG TỈNH THANH HÓA Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày 18 - 02 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tình
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Bá Hiền
2. Bà Bùi Thị Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Liên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh ngày 06/4/1994 tại xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: Thôn G, xã T, huyện N, Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (không xác định được cha); con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1972; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; chưa có vợ con.
Tiền sự: không
Tiền án: Ngày 26/12/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong bản án. Ngày 23/11/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (tài sản trộm cắp dưới 2.000.000đồng). đã chấp hành xong bản án.
Nhân thân: Ngày 12/11/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội Hiếp dâm trẻ em. Đã chấp hành xong bản án.
Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 03/11/2024, đến ngày 12/11/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 03/11/2024, trong khi thực hiện nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn xã T, huyện N, tổ công tác Công an huyện N và Công an xã T phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn D có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trên tay phải của D 01 (một) gói giấy ăn chứa 02 (hai) gói nhỏ, bên ngoài hai gói nhỏ là giấy trắng có dòng kẻ, bên trong chứa chất rắn dạng cục vụn màu trắng ngà (nghi là ma túy) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Viettel, màu đen, bàn phím cứng gắn sim số 0376.011.072. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong số ma túy trên trong phong bì ký hiệu D1 và đưa Nguyễn Văn D về trụ sở Công an huyện N để làm việc. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn D tại thôn G, xã T, huyện N, nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Về nguồn gốc ma túy: Nguyễn Văn D khai báo: Khoảng 15 giờ ngày 03/11/2024, D sử dụng số điện thoại 0376.011.xxx liên hệ với Nguyễn Tiến A, sinh năm 1985, trú tại tiểu khu Đ, thị trấn N qua số điện thoại 0966.430.xxx để hỏi mua ma túy được Tiến A đồng ý và hẹn điểm nhận tại thị trấn B, huyện N. D xin ngồi nhờ xe của người đi đường đến điểm hẹn. Tại đây, D đưa cho Tiến A 1.000.000 đồng, Tiến A đưa lại cho D 02 gói ma túy được đựng trong tờ giấy ăn.
Mở rộng điều tra vụ án Cơ quan CSĐT đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tiến A tại Tiểu khu Đ, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án. Quá trình làm việc, Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Nguyễn Văn D và Nguyễn Tiến A về nội dung Mua bán trái phép chất ma túy nhưng Nguyễn Tiến A không thừa nhận và không thu thập thêm được tài liệu gì khác nên không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Tiến A.
Ngày 04/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số ma túy đã thu giữ.
Tại Bản Kết luận giám định số 4262/KL-KTHS ngày 08/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất rắn dạng cục vụn màu trắng ngà của phong bì ký hiệu D1 niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,334g (Không phẩy ba ba bốn gam), loại: Heroine (H).
* Vật chứng vụ án:
- 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ, Trần Thị Thúy H, Lê Thọ V và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T. Bên trong chứa toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu D1 và 0,284g (không phẩy hai tám bốn gam) chất rắn dạng cục vụn màu trắng ngà.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Viettel màu đen, bàn phím cứng, gắn sim số 0376.011.072.
Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKS-HS ngày 02/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Nông Cống phát biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động đã qua sử dụng; tịch thu tiêu hũy toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định kèm bao gói niêm phong; bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo nhận tội, không có tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nông Cống, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đủ cơ sở chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 03/11/2024, tại địa bàn thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; trong khi thực hiện nhiệm vụ tuần tra bảo đảm an ninh trật tự, tổ công tác Công an huyện N và Công an xã T đã phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn D có hành vi Tàng trữ trái phép 0,334g (Không phẩy ba ba bốn gam) ma túy, loại: Heroine. Mục đích để sử dụng.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại CQĐT, phù hợp với vật chứng thu giữ đã được giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. HĐXX Tòa án nhân dân huyện Nông Cống có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Như vậy, cáo trạng của VKSND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội như sau: Ma túy có đặc tính gây nghiện, gây ảo giác cho người sử dụng, con người khi mắc nghiện là bị lệ thuộc vào ma túy. Ma túy là đối tượng gây ra tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Việc sử dụng ma túy tùy tiện sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Vì vậy, Nhà nước quản lý ma túy nghiêm ngặt chủ yếu sử dụng trong lĩnh vực y tế và nghiên cứu khoa học, không cho phép lưu thông tự do. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy và việc sử dụng ma túy tùy tiện sẽ gây hậu quả xấu cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng, gây hậu quả xấu cho bản thân, gia đình và cho xã hội. Vì vậy, cần phải xử nghiêm loại tội phạm này để ổn định trật tự xã hội góp phần xây dựng xã hội lành mạnh, an toàn.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về nhân thân bị cáo là người có nhân thân xấu.
Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, HĐXX, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian với điều kiện giáo dục, lao đông, cải tạo nghiêm khắc theo quy chế trại giam mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội đồng thời góp phần răn đe, giáo dục phòng ngừa chung là phù hợp với Điều 38 BLHS. Thời gian tạm giữ, tạm giam của bị cáo được tính vào thời gian chấp hành hình phạt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định kèm bao gói niêm phong; tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động của Nguyễn Văn D.
[7] Về án phí: Bị cáo có tội, bị kết án và không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS.
Xử phạt: Nguyễn Văn D 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 03/11/2024). Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý còn lại sau giám định kèm bao gói niêm phong; tịnh thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động, đặc điểm vật chứng (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nông Cống).
Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Tình |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÔNG CỐNG, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
