Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/DS – PT

Ngày 17 - 02 - 2025

“Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Mạnh
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền;
Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

- Thư ký phiên toà: Ông Đường Thái Sơn - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 168/2024/TLPT- DS ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐ-PT ngày 02 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1987

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1963.

    Đều có địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

  2. Bị đơn:
    1. Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1955.

      Địa chỉ: Tổ E, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang, vắng mặt.

    2. Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1962, vắng mặt.

      Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn N - đại diện nguyên đơn, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:

Anh Nguyễn Văn M là chủ sử dụng thửa đất số 177B, tờ bản đồ số 02 ở thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc đã được UBND huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB508931 ngày 22/6/2006, diện tích là 204m². Nguồn gốc thửa đất này là do ông N mua lại của ông H và bà Q, ông N cho ông M đứng tên trên hợp đồng. Hai bên thống nhất ông H, bà Q làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cắm mốc giới cho ông M nhưng đến hiện tại ông bà vẫn chưa cắm mốc. Khi mua bán, nhà ông bà H, Q vẫn còn bức tường cũ trên diện tích đất đã chuyển nhượng nên có xin gia đình ông M cho để nhờ, khi nào gia đình ông M xây dựng nhà cửa sẽ phá bỏ. Năm 2011, ông M xây nhà có báo cho ông H về việc phá bức tường này đi, nhưng do ông H làm ăn xa không về được nên ông M cũng tự xây móng nhà thụt lại mà không phá bỏ bức tường. Đến năm 2012, ông H về lại cho rằng ông M lấn sang đất của nhà ông bà; UBND xã Đ khi đó đã đo đạc lại và kết luận gia đình ông M không lấn, mà chính bức tường cũ của nhà ông H bà Q lấn sang. Khi đó, bà Q, ông H có xin nhà ông M khi nào xây nhà sẽ xây thụt lại, trả lại cho ông M diện tích đúng như đã thỏa thuận và đã được UBND xã Đ lập thành văn bản. Từ đó đến nay, gia đình ông M sử dụng ổn định. Khoảng tháng 02 năm 2023, gia đình ông H tiến hành xây dựng nhà nhưng lại không thụt lại mà vẫn xây theo lối bờ tường cũ. Ông M có đơn đề nghị ra xã giải quyết và UBND xã có công văn đề nghị ông H, bà Q tạm dừng việc thi công nhưng ông bà vẫn cố tình xây dựng.

Dựa trên kết quả đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/5/2023 thì diện tích đất của ông M đang sử dụng là 192,6m² còn thiếu 11,4m² so với giấy chứng nhận. Các chiều cạnh khác tiếp giáp nhà ông L, ông T không có tranh chấp vì mốc giới đã cố định, từ đó ông N xác định ông H, bà Q đã lấn chiếm đất của gia đình ông.

Tại đơn khởi kiện của ông M và các lời khai, ông M trình bày thửa đất số 177B, tờ bản đồ số 02 của ông M có diện tích 204m², thửa đất số 177A, tờ bản đồ số 02 của bà Q có diện tích 183m². Tháng 2 năm 2023 gia đình bà Q tiến hành đào móng, xây dựng nhà ở lấn chiếm sang thửa đất nhà ông M. Cụ thể chiều về hướng Đông Bắc của thửa đất, (Cạnh BA trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) là gia đình ông bà Hải Q1 đang lấn sang diện tích đất của ông M 26cm chiều rộng và 10m chiều dài, tổng diện tích lấn chiếm là 2,6m² (bằng việc xây dựng, đào móng nhà, xây dựng công trình xây dựng kiên cố trên diện tích đất lấn chiếm).

Tại Biên bản hòa giải ngày 01/8/2023 tại TAND huyện Yên Lạc, người đại diện theo ủy quyền của ông M bổ sung, thay đổi: Diện tích đất ông M đang sử dụng là 192,6m² còn thiếu 11,4m² so với giấy chứng nhận. Các chiều cạnh khác tiếp giáp với nhà ông L, ông T không có tranh chấp vì mốc giới đã cố định. Do đó xác định gia đình bà Q1, ông H đã lấn chiếm đất nhà ông M là 3,4m² giới hạn bởi các điểm B, C, N, G, M, B trong trích đo hiện trạng ngày 22/5/2023.

Tại phiên tòa sơ thẩm ông N đề nghị Tòa án giải quyết:

  • Buộc vợ chồng ông Thanh H, bà Nguyễn Thị Q phải trả lại 08m² đất đã lấn chiếm của ông M, cụ thể phải trả lại cho ông M khoảng 17cm chiều dài phía sau (cạnh BD) nhưng không đề nghị xem xét thẩm định, không đưa ra được chiều cạnh, kích thước đối với yêu cầu phần diện tích này (vì ông không tự xác định được mốc giới).
  • Buộc vợ chồng ông Thanh H, bà Nguyễn Thị Q phải tháo dỡ, di dời công trình đã xây dựng trên phần đất diện tích đã lấn chiếm. Ông M đề nghị Tòa án xác định rõ mốc giới thửa đất giữa gia đình ông M và gia đình bà Q, ông H.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh H và bà Nguyễn Thị Q thống nhất trình bày:

Nguồn gốc thửa đất 177 trước kia là của bố mẹ bà Q để lại cho vợ chồng ông. Sau đó do vợ chồng ông đi làm ăn xa, nên có bán bớt một phần cho ông N là bố đẻ của ông M. Khi đó ông đã thỏa thuận với ông N là vì trên đất còn một ngôi nhà có bàn thờ tổ tiên nên ông giữ lại, phần đằng sau dài 8,45m, đằng trước dài 9,8m còn lại bao nhiêu thì bán cho ông N và ông N để cho ông M đứng tên. Sau khi mua bán, hai bên đã mời địa chính vào đo đạc và xin xác nhận của các hộ liền kề. Các bên đã mua bán đúng quy định của pháp luật. Trong thời gian chờ lấy sổ đỏ, gia đình ông đã dỡ nhà và san mặt bằng để có sổ đỏ và cắm mốc giới cho 02 gia đình và giao sổ đỏ. Do gia đình ông đi làm ăn xa không ở nhà liên tục nên ông M tự ý ra lấy sổ để tự xây tường ngăn cách giữa 02 gia đình. Năm 2010, ông M xây nhà kiên cố cũng tự đặt ranh giới, đến khi gia đình ông về thì nhà ông M cũng đã xây xong, ông bà kiểm tra đất thì thấy gia đình ông M lấn sang khoảng 10cm. Ông bà có đề nghị UBND xã Đ giải quyết sau đó có đo đạc lại và xác định là gia đình tôi không thiếu. Đến năm 2023, nhà ông xây nhà, có mời các hộ giáp ranh xác định mốc giới nhưng riêng nhà ông M không đồng ý và đe dọa, thách thức, vì vậy hai gia đình không giàn xếp được với nhau nên gia đình ông vẫn xây dựng theo diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận. Đến nay, ông xác định diện tích đất gia đình là toàn bộ diện tích gia đình ông đang xây dựng nhà như hiện trạng. Đối với phần diện tích 3,4m² khoảng trống giữa 02 nhà, ông bà không có ý kiến gì.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện:

  • Diện tích đo đạc theo hiện trạng sử dụng của nhà anh Nguyễn Văn M là 192,6m² giới hạn bởi các điểm C,D,E,F,G,N,C
    • Phía Đông Bắc giáp đất nhà ông T và diện tích đất ông M mua thêm có kích thước: DE= 11,95m; EF= 7,75m
    • Phía Tây Nam giáp đất nhà ông H, bà Q kích thước GN=8,21m; NC = 11,84m
    • Phía Đông Nam giáp đường kích thước GF=9,97m
    • Phía Tây Bắc giáp nhà ông Lương kích T1 CD=9,69m
  • Trên thửa đất có xây 01 nhà 02 tầng năm 2011 (theo ông N cho biết khi xây dựng nhà từ phần móng lên phía giáp đất nhà ông H là ông xây dựng hết đất. Phía trước nhà có 01 lán lợp tôn, phía giáp đất nhà ông H, Q thì ông N xây 01 đoạn tường 10 và dựng 01 cột sắt làm mốc giới giữa hai nhà).
  • Diện tích đo đạc theo hiện trạng sử dụng của nhà ông Nguyễn Thanh H là 182,1m² giới hạn bởi các điểm A,B,M,G,H,I,J,K,L,A
    • Phía Đông Bắc giáp thửa đất nhà ông M có kích thước: BM= 11,27m; MH= 9,20m
    • Phía Tây Nam giáp đất nhà ông L2 kích thước IJ=6,19m; JK = 1,58m; KA= 15,3m
    • Phía Tây Bắc giáp nhà ông Lương kích T1 AB=8,37m
    • Phía Đông Namgiáp đường kích thước CD=9,75m
  • Trên thửa đất đang xây dựng 01 ngôi nhà 02 tầng.
  • Giữa hai thửa đất có 01 khoảng trống có diện tích 3,4m² giới hạn bởi các điểm B,C,N,G,M,B. Phần diện tích đất này ông H, bà Q xác định là của nhà ông M.

(Có sơ đồ kèm theo).

Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Phòng tài nguyên và môi trường huyện Y cung cấp thể hiện:

Hộ bà Nguyễn Thị Q được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/6/2000 đối với thửa đất số 177, tờ bản đồ số 02 có diện tích 420m² trong đó có 200m² đất ở và 220m² đất vườn.

Năm 2006, hộ bà Q bán cho ông Nguyễn Văn M diện tích 204m² có kích thước theo Giấy chứng nhận: Phía Đông giáp đất nhà ông G1, bà Đ kích thước CD = 20,25m; phía Tây giáp đất nhà ông H, bà Q kích thước AB= 20,6m; phía Nam giáp đường kích thước AD=10m; phía Bắc giáp đất nhà ông T2, ông N1 kích thước BC=10m.

Phần diện tích gia đình ông H, bà Q còn lại là 183m², ông H, bà Q xác định phần diện tích còn thiếu so với giấy chứng nhận là 33m² là do có sự sai số, nhầm lẫn về đo đạc. Kích thước theo giấy chứng nhận cụ thể: Phía Đông giáp diện tích đất bán cho ông M kích thước EF=20,6m; phía Tây giáp đất nhà ông Đ1 kích thước AB=6,1m; BC= 1,6m; CD= 14,8m; phía Nam giáp đường kích thước AF=9,8m; phía Bắc giáp đất nhà ông T2 kích thước ED=8,45m.

Quá trình xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc hiện trạng, biên bản xác minh các bên đương sự đều đồng ý, không có ý kiến gì.

Ông N vẫn xác định gia đình bà Q, ông H đã lấn chiếm đất nhà ông M là 3,4m² giới hạn bởi các điểm B, C, N, G, M, B trong trích đo hiện trạng ngày 22/5/2023 là phần đất gia đình ông đang còn thiếu và yêu cầu gia đình ông H, bà Q phải tháo dỡ công trình và xác định mốc giới.

Với nội dung bản án như trên tại bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

Căn cứ Điều 175 Bộ luật Dân sự 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 147, Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 12, Điều 166, khoản 1 Điều 170, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M.

Ngoài ra còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 08/10/2024, ông Nguyễn Văn N kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông H, bà Q phải trả lại cho ông M diện tích đất lấn chiếm là 3,4m²; dỡ bỏ công trình xây dựng trên diện tích đất lấn chiếm của ông M, gia đình ông H, bà Q phải chịu mọi nghĩa vụ với Nhà nước.

Tại phiên tòa, ông N đề nghị xác định ranh giới đất giữa gia đình anh M và ông H bà Q theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông H, bà Q; ông N đề nghị xác định 3,4 m² đất là của ông M.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và nguyên đơn, bị đơn, đương sự đảm bảo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn N làm trong hạn luật định hợp lệ được chấp nhận.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn N thấy rằng:

Năm 2000 hộ bà Nguyễn Thị Q được UBND huyện V, tỉnh Vĩnh Phú cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 177, tờ bản đồ số 02 diện tích 420m². Năm 2006, ông H, bà Q bán cho ông Nguyễn Văn M 204m²; Hai bên đã làm thủ tục chuyển nhượng theo đúng quy định và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 177b diện tích 204m², hộ bà Q được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 177a diện tích 183m². Phần diện tích thiếu hụt so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp năm 2000 là 33m² ông H, bà Q không có ý kiến gì và chấp nhận đó là do sai số về đo đạc, tại thời điểm năm 2006 các gia đình xung quanh đã xây dựng tường rào, ranh giới cố định.

Năm 2011, ông M đã xây dựng 01 ngôi nhà 03 tầng kiên cố trên diện tích đất đã mua của ông H, bà Q; Năm 2023, khi ông H, bà Q về xây dựng nhà thì giữa hai bên xảy ra tranh chấp. Ông M khởi kiện yêu cầu ông H, bà Q phải trả lại phần diện tích lấn chiếm khoảng 2,6m² đất đã lấn chiếm của ông và buộc vợ chồng ông Thanh H, bà Nguyễn Thị Q phải tháo dỡ, di dời công trình đã xây dựng trên phần đất diện tích đã lấn chiếm. Tại phiên tòa, ông N là người đại diện theo ủy quyền của ông M bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông H, bà Q phải trả lại đủ diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông M.

Sau khi mua đất, ông M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Đến năm 2012, ông M đã xây dựng 01 ngôi nhà 03 tầng, phía trước tiếp giáp đường làm sân và có dựng 01 cột sắt kiên cố tiếp giáp giữa 02 thửa đất, ông M tự xác định ranh giới giữa hai nhà. Qua xem xét thẩm định và đo đạc thực tế thì hiện trạng sử dụng đất của cả hai hộ đều có sự chênh lệch so với kích thước được ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hai hộ. Hiện tại, cả hai gia đình đều đang thiếu đất so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp. Cụ thể:

Diện tích đo đạc theo hiện trạng sử dụng của hộ ông H, bà Q sử dụng 182,1m² thiếu 0,9m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó phần giáp đường có chiều dài 9,75m, còn thiếu 0,05m, chiều dài phía sau giáp nhà ông L là 8,37m thiếu 0,08m.

Diện tích đo đạc theo hiện trạng sử dụng của nhà anh Nguyễn Văn M là 192,6m², thiếu 11,4m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó phần giáp đường có chiều dài 9,97m thiếu 0,03m (03cm); chiều dài phía sau giáp nhà ông L là 9,83m thiếu 0,17m (17cm).

Đối với phần diện tích trống giữa hai nhà là 3,4m² ông H, bà Q xác định không có tranh chấp gì, mà xác định là đất của ông M, Toà án sơ thẩm xác định phần đất này thuộc quyền sử dụng của ông M, không phải là phần đất tranh chấp. Do đó xác định hộ ông M sử dụng 196m² thiếu 08m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông N là người đại diện theo ủy quyền của ông M bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông H, bà Q phải trả lại đủ diện tích đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông M. Tuy nhiên, ông M không xác định được mốc giới chính xác, vị trí 8m² còn thiếu ở đâu mà chỉ dựa trên việc ông có mua đất của nhà bà Q và dựa vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp là chưa đủ căn cứ để xác định việc ông H, bà Q lấn chiếm đất của ông, trong khi gia đình anh M đã xây dựng nhà trước; đóng cọc sắt để xác định mốc giới. Mặt khác, tính theo chiều dài thửa đất theo đo vẽ hiện trạng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các hộ gia đình đều ngắn hơn, cụ thể: cạnh đất nhà anh M giáp đất với nhà ông H, bà Q trong giấy chứng nhận là 20,6m, còn theo đo vẽ hiện trạng (BL 37) là 20,05m (ngắn hơn 0,55m); cạnh nhà anh M giáp đất nhà ông T cũng ngắn hơn 0,55m (đo hiện trạng 19,70m so với trong giấy chứng nhận 20,25m), như vậy nhân với chiều rộng thửa đất khoảng 10m thì diện tích là khoảng 5,5m² nên ông M không còn thiếu 08m² đất.

Do cả hai bên đều xác định 3,4m² là của gia đình anh M nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và đúng pháp luật. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm đã không quyết định mốc giới cụ thể giữa hai gia đình dẫn đến giải quyết vụ án không triệt để.

Kháng cáo của ông N - đại diện nguyên đơn đề nghị buộc gia đình ông H, bà Q trả lại diện tích đất lấn chiếm là 3,4m². Trong quá trình giải quyết vụ án đã xác định phần diện tích 3,4m² là khoảng đất trống giữa hai nhà, giới hạn bởi các điểm B,C,N,G,M,B. Phần diện tích đất này ông H, bà Q xác định là của nhà ông M, gia đình ông bà Hải Q1 không quản lý, sử dụng nên không tranh chấp với ông M. Việc kháng cáo này là không cần thiết nhưng do bản án sơ thẩm đã tuyên không cụ thể, rõ ràng về ranh giới giữa hai nhà, do vậy cấp phúc thẩm cần sửa lại cách tuyên của bản án sơ thẩm cho rõ ràng, cụ thể, có thể xác định thi hành và không tranh chấp về sau.

[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên ông M phải chịu toàn bộ án phí sơ thẩm trên giá trị tranh chấp như án sơ thẩm quyết định là phù hợp.

Kháng cáo của ông Nguyễn Văn N không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa là có căn cứ, được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn N. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân huyện Y.

Căn cứ Điều 175 Bộ luật Dân sự 2015; Căn cứ Điều 166, khoản 1 Điều 170, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Căn cứ Điều 147, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M.
  2. Xác định mốc giới sử dụng đất của ông Nguyễn Văn M và ông Nguyễn Thanh H, bà Nguyễn Thị Q như sau:
    1. Anh Nguyễn Văn M được sử dụng thửa đất số 177B, tờ bản đồ 02, địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích là 196m², giới hạn bởi các điểm B,C,D,E,F,G,M,B,C.
      • Phía Đông Bắc giáp đất nhà ông T có kích thước: DE= 11,95m; EF= 7,75m.
      • Phía Đông Nam giáp đường kích thước FG=9,97m.
      • Phía Tây Nam giáp đất nhà ông H, bà Q kích thước GM=9,20m; MB = 11,27m.
      • Phía Tây Bắc giáp nhà ông Lương kích T1 BC =0,14m; CD=9,69m.
    2. Hộ ông Nguyễn Thanh H và bà Nguyễn Thị Q được sử dụng thửa đất số 177A, tờ bản đồ 02, địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích là 182,1m², giới hạn bởi các điểm A,B,M,G,H,I,J,K,L,A.
      • Phía Đông Bắc giáp thửa đất nhà ông M có kích thước: BM= 11,27m; MH= 9,20m.
      • Phía Tây Nam giáp đất nhà ông L2 kích thước IJ=6,19m; JK = 1,58m; KA= 15,3m.
      • Phía Tây Bắc giáp nhà ông Lương kích T1 AB=8,37m.
      • Phía Đông Nam giáp đường kích thước CD=9,75m.

      (Có sơ đồ kèm theo).

    Buộc vợ chồng ông Thanh H, bà Nguyễn Thị Q phải tháo dỡ, di dời công trình xây dựng trên phần đất diện tích đất 3,4m² của ông Nguyễn Văn M (nếu có).

  3. Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản án và quy định của pháp luật.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  5. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn M phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định và định giá tài sản là 5.000.000đồng. Xác nhận ông N là người đại diện theo ủy quyền đã nộp đủ.
  6. Về án phí: Ông Nguyễn Văn M phải chịu 652.800đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu số 0001590 ngày 06/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc. Ông M còn phải chịu 352.800đồng (Ba trăm năm mươi hai nghìn tám trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Ông Nguyễn Văn N phải chịu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000đồng đã nộp tại biên lai thu số 0003417 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc.

  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - TAND Yên Lạc;
  • - Chi cục THADS Yên Lạc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vũ Văn Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/DS – PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 11/2025/DS – PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Buộc vợ chồng ông Thanh H, bà Nguyễn Thị Q phải trả lại 08m2 đất đã lấn chiếm của ông M, cụ thể phải trả lại cho ông M khoảng 17cm chiều dài phía sau (cạnh BD) nhưng không đề nghị xem xét thẩm định, không đưa ra được chiều cạnh, kích thước đối với yêu cầu phần diện tích này (vì ông không tự xác định được mốc giới). - Buộc vợ chồng ông Thanh H, bà Nguyễn Thị Q phải tháo dỡ, di dời công trình đã xây dựng trên phần đất diện tích đã lấn chiếm. Ông M đề nghị Tòa án xác định rõ mốc giới thửa đất giữa gia đình ông M và gia đình bà Q, ông H.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger