TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày 14-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Trường Hận
- Bà Lâm Thị Nguyệt hồ
- - Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Khương Bửu Bửu - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
- - Họ và tên: Hà Tuấn T; Tên gọi khác: Bé T1; Giới tính: Nam;
- - Sinh ngày: 03/7/1990, tại Bạc Liêu;
- - Nơi cư trú: Số A, Khóm H, Phường A, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu
- - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
- - Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: Không biết chữ;
- - Cha: Hà Văn Đ, sinh năm 1961;
- - Mẹ: Dương Yến N, sinh năm 1961
- - Chị, em ruột: Gồm 03 người, lớn nhất sinh năm 1988; nhỏ nhất sinh năm 1992
- - Tiền án 01: Ngày 11/9/2023, Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (theo Bản án hình sự sơ thẩm số 133/2023/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/6/2024.
- - Tiền sự 01: Ngày 24/11/2020, Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu ra quyết định số 115/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiệm bắt buộc, thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong ngày 09/9/2022.
- - Nhân thân:
- + Ngày 20/6/2007, Tòa án nhân dân thị xã Bạc Liêu (nay là thành phố B) xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự (theo Bản án số 52/2007/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/12/2007, nộp án phí hình sự sơ thẩm tháng 9/2010, được xóa án tích.
- + Ngày 26/01/2016, Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự (theo bản án số 04/2016/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/4/2016, nộp án phí hình sự sơ thẩm tháng 7/2018, được xóa án tích.
- + Ngày 28/12/2016, Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự (theo bản án số 103/2016/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/3/2017, nộp án phí hình sự sơ thẩm tháng 02/2017, được xóa án tích.
- + Ngày 15/6/2012, Ủy ban nhân dân thành phố B ra Quyết định số 94/QĐXP-UBND về việc đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong ngày 23/01/2015.
- + Ngày 10/3/2015, Công an P, thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 20/QĐ-XPHC về hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt 1.500.000 đồng.
- + Ngày 10/11/2015, Công an thành phố B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 228/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, mức phạt 1.000.000 đồng.
- + Ngày 24/6/2016, Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố B ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 01/QĐ-UBND, đã chấp hành xong ngày 24/9/2016.
- + Ngày 07/7/2017, Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu ra quyết định số 42/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong ngày 26/7/2019.
- + Ngày 07/11/2019, Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố B ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn S-UBND về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn 03 tháng đã chấp hành xong ngày 05/02/2020.
- Bị bắt tạm giam ngày 24 tháng 10 năm 2024. “có mặt”.
- Bị hại: Ông Lê Văn N1, sinh năm 1966. Nơi thường trú: Số C, khóm Đ, phường N, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 21/8/2024, Hà Tuấn T mượn xe ô tô biển kiểm soát 94K2-317.03 của chị Trương Thị Mỹ H để đi tìm tài sản lấy trộm nhưng lại nói là đi uống cà phê. Sau đó, T điều khiển xe đến nhà số H, ấp X, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu thấy cửa nhà không khóa. Quan sát không có người, T đi vào nhà thì phát hiện 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu xám đen của anh Lê Văn N1 để trên bàn máy may để cất giấu vào túi quần phía trước bên phải T đang mặc rồi điều khiển xe về phòng trọ tại Khóm F, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Đối với ông N1, sau khi phát hiện điện thoại bị mất nên trình báo Công an xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, đồng thời giao nộp 01 đĩa DVD chứa dữ liệu trích xuất từ camera.
Trong quá trình điều tra bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐĐGTS ngày 09/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố B kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A7, Ram 04GB, dung lượng 64GB, số IMEI 1: 864267041034679, số IMEI 2: 864267041034661, màu xám đen, đã qua sử dụng. Tính đến ngày 21/8/2024 giá trị thành tiền còn lại của điện thoại là 1.374.300 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSTPBL ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo Hà Tuấn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- - Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Tuyên bố bị cáo Hà Tuấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- + Căn cứ Khoản 1 Điều 38 ; điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hà Tuấn T từ 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù.
- + Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận được tài sản bị mất trộm, ông Lê Văn N1 không yêu cầu gì khác nên không xem xét, giải quyết.
- + Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo Hà Tuấn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Bị cáo Hà Tuấn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Sau khi nghe Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu trình bày luận tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị hại ông Lê Văn N1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do. Xét thấy: Ông Lê Văn N1 đã nhận được tài sản bị mất trộm và trong quá trình Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai đối với ông N1 thì ông N1 không yêu cầu gì trong vụ án này. Do đó, việc ông N1 vắng mặt tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông N1 và không ảnh hưởng đến việc giải quyết toàn diện vụ án. Vì vậy, Căn cứ Khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án này theo quy định pháp luật.
[3] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo Hà Tuấn T tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra; lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại Lê Văn N1 về thời gian, địa điểm, đặc điểm tài sản bị cáo chiếm đoạt; đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố và đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, đủ căn cứ chứng minh: Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 21/8/2024, tại số nhà H, ấp X, xã H, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, Hà Tuấn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu xám đen, có giá là 1.347.300 đồng của ông Lê Văn N1. Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Hà Tuấn T có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4] Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; hành vi của bị cáo gây thiệt hại không lớn do tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại. Do đó, khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm h, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Nhưng xét về nhân thân, bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và nhiều lần bị đưa đi cai nghiện bắt buộc.
[6] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền quản lý, sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an, gây tâm lý hoang mang cho người dân. Cho nên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cần phải có một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho xã hội.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Văn N1 đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không có yêu cầu gì khác. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố B về tội danh, hình phạt và các nội dung khác đối với bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Hà Tuấn T (tên gọi khác: Bé T1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Tuấn T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành tù được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam ngày 24/10/2024.
- Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo Hà Tuấn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Lê Trường Hận Lâm Thị Nguyệt H1 | Nguyễn Thị H2 |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội trộm cắp tài sản
