Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 13/02/2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi

con chung, yêu cầu chia tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Thanh Quyền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Hằng

Bà Trịnh Thị Trúc Linh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Diện– Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 138/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Hồ Việt T, sinh năm 1980; Địa chỉ: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
  2. Bị đơn: Bà Ngô Mỹ L, sinh năm 1977; Địa chỉ: Khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Hồ Việt T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2001, ông T và bà Ngô Mỹ L tự nguyện tổ chức đám cưới sau đó đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long ngày 17/11/2004. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Lúc đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc nhưng không kéo dài được lâu thì bắt đầu xảy ra mâu thuẩn, hay cự cãi, bất đồng quan điểm làm ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng. Nhận thấy vợ chồng đã không còn tình cảm nên ông T yêu cầu ly hôn với bà L.

Về con chung: Ông T và bà L có 02 con chung tên Hồ Nhựt T1, sinh ngày 09/6/2002, giới tính nam và Hồ Trường G, sinh ngày 11/01/2014, giới tính nam. Hồ Nhựt T1 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, thống nhất để Hồ Trường G tiếp tục sống chung với bà L, ông T thống nhất cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Ngô Mỹ L trình bày: Bà Ngô Mỹ L thống nhất ly hôn với ông Hồ Việt T. Về con chung: Có 02 con chung tên Hồ Nhựt T1, sinh ngày 09/6/2002, giới tính nam đã thành niên. Bà L được yêu cầu nuôi con chung Hồ Trường G, sinh ngày 11/01/2014, giới tính nam. Về tài sản chung, yêu cầu phân chia cho bà L phần đất có chiều ngang 5 mét, chiều dài 50 mét, tổng diện tích là 250m². Về nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu ý kiến như sau:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Việt T. Ông T được ly hôn với bà L. Về con chung: Bà Ngô Mỹ L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Hồ Trường G, sinh ngày 11/01/2014, giới tính nam. Ông Hồ Việt T có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho con chung Hồ Trường G mỗi tháng số tiền là 1.725.000 đồng. Thời điểm bắt đầu cấp dưỡng từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 13/02/2025) đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Hồ Việt T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Đối với Hồ Nhựt T1 đã thành niên nên không đề cập giải quyết trong vụ án này. Về tài sản chung: Đình chỉ yêu cầu giải quyết của bà Ngô Mỹ L về tài sản là phần đất có diện tích 250m². Bà Ngô Mỹ L được khởi kiện thành vụ án khác về tranh chấp tài sản khi có yêu cầu. Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không đề cập giải quyết trong vụ án này. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật, sung quỹ Nhà nước án phí bà L đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về trình tự, thủ tục.

[1.1] Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản”, bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thị xã L nên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Nguyên đơn ông Hồ Việt T có yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn bà Ngô Mỹ L đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử văng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Việt T và bà Ngô Mỹ L tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 17/11/2004 nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Vợ chồng chung sống được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cự cải, cuộc sống chung không hạnh phúc. Ông T yêu cầu ly hôn, bà L thống nhất ly hôn nên Hội đồng xét xử thống nhất giữa ông T và bà L được ly hôn.

[2.2] Về con chung: Ông Hồ Việt T và bà Ngô Mỹ L có 02 con chung tên Hồ Nhựt T1, sinh ngày 09/6/2002, giới tính nam và Hồ Trường G, sinh ngày 11/01/2014, giới tính nam.

Đối với con chung, Hồ Nhựt T1 đã thành niên nên không đề cập giải quyết.

Đối với con chung Hồ Trường G, bà L có yêu cầu nuôi con, ông T cũng thống nhất, điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung. Do đó, để đảm bảo môi trường sống ổn định cho con chung, căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử thống nhất giao con chung cho bà L tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Hồ Việt T thống nhất cấp dưỡng nuôi con theo quy định là 1.725.000 đồng/tháng. Thời điểm cấp dưỡng được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ông Hồ Việt T có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án, ông Hồ Việt T khai vợ chồng có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận. Bà Ngô Mỹ L có yêu cầu chia tài sản chung phần đất có diện tích 250m² nhưng Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bà L vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu giải quyết về tài sản là phần đất có diện tích 250m² đối với bà Ngô Mỹ L. Bà Ngô Mỹ L được khởi kiện thành vụ án khác về tranh chấp tài sản khi có yêu cầu.

[2.4] Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.

[3] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp số tiền 300.000 đồng, tiền án phí hôn nhân và gia đình và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Sung vào công quỹ Nhà nước án phí bị đơn đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56; Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Việt T.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Việt T và bà Ngô Mỹ L được ly hôn.
  3. Về con chung: Bà Ngô Mỹ L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Hồ Trường G, sinh ngày 11/01/2014, giới tính nam. Ông Hồ Việt T có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho con chung Hồ Trường G mỗi tháng số tiền là 1.725.000 đồng (Một triệu, bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Thời điểm bắt đầu cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 13/02/2025) đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Hồ Việt T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Đối với Hồ Nhựt T1 đã thành niên nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.

  4. Về tài sản chung: Đình chỉ yêu cầu giải quyết của bà Ngô Mỹ L về tài sản là phần đất có diện tích 250m². Bà Ngô Mỹ L được khởi kiện thành vụ án khác về tranh chấp tài sản khi có yêu cầu.
  5. Về nợ chung: Các đương sự khai không có nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.
  6. Về án phí sơ thẩm:
    • Nguyên đơn ông Hồ Việt T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007983 ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Ông Hồ Việt T phải tiếp tục nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
    • Sung vào công quỹ Nhà nước số tiền 406.250 đồng (Bốn trăm lẽ sáu nghìn, hai trăm năm mươi đồng) tiền tạm ứng án phí bà Ngô Mỹ L đã nộp theo biên lai số 0008084 ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
  7. Nguyên đơn ông Hồ Việt T và bị đơn bà Ngô Mỹ L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND thị xã Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS thị xã Long Mỹ;
  • - UBND xã Thạnh Lợi, huyện Bình Tân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Thanh Quyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, yêu cầu chia tài sản

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, yêu cầu chia tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger