TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HSST
Ngày: 13-02-2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tăng Tài Thủ
Bà Trần Thúy Kiên.
Thư ký phiên toà: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Toà án nhân dân quận Thốt Nốt - Thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - Thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà:Bà Lê Thị Kim Xa - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Lê Ngọc T, sinh năm 1992 tại Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thanh T1, sinh năm 1959 và bà Võ Thanh T2, sinh năm 1962; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 lần. Vào ngày 22/6/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/9/2012, hiện chưa nộp tiền án phí và tiền sung quỹ Nhà nước do phạm tội mà có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an quận T, thành phố Cần Thơ. (Có mặt)
- Người bị hại: Ông Đặng Hữu P sinh năm 1962. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có đơn xin vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Đinh Xuân T3 – sinh năm 1977. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền chi tiêu và biết nhà ông Đặng Hữu P ngụ khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ có trồng mai nhưng không ai trông coi nên Lê Ngọc T nảy sinh ý định trộm mai của ông P bán lấy tiền chi tiêu. Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 22/01/2014, Lê Ngọc T đi bộ từ nhà tại khu vực T, phường T, quận T đến nhà ông Đặng Hữu P đột nhập vào phần sân phía sau nhà ông P lấy trộm 03 (ba) cây mai kiểng đang trồng trong chậu. Sau đó, T đi bộ về nhà lấy xe đạp quay lại nhà ông P chở 03 (ba) cây mai trộm đến nhà Đinh Xuân T3 tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ gửi và tìm nơi tiêu thụ. Đến 08 giờ 15 phút, ngày 22/01/2014, ông Đặng Hữa P1 phát hiện bị mất trộm 03 (ba) cây mai nên trình báo Công an phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (Bút lục 01)
Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an phường T tiến hành xác minh và xác định Lê Ngọc T là người thực hiện hành vi trộm mai nhà ông Đặng Hữu P nên tiến hành mời Lê Ngọc T làm việc và T thừa nhận hành vi trộm cắp 03 (ba) cây mai của ông Đặng Hữu P mang gửi tại nhà nhà của Đinh Xuân T3. Công an phường đến nhà Đinh Xuân T3 thu hồi 03 cây mai, không lá, không chậu, thân cây công và có hình dáng khác nhau. (Bút lục 03)
Tại biên bản về việc định giá tài sản số 10/2014/BB-ĐGTS ngày 18/02/2014 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận T, kết luận: mai kiểng loại mai ghép, số lượng 03 cây có tổng giá trị 2.500.000 đồng. (Bút lục 43)
Sau khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can Lê Ngọc T bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 16/10/2024 thì bị bắt theo Quyết định truy nã.
Quá trình điều tra, Lê Ngọc T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với chứng cứ đã được thu thập. (Bút lục 56-72)
Về vật chứng: quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định trả lại cho chủ sở hữu là ông Đặng Hữu P 03 cây mai bị mất trộm. (Bút lục 55). Đối với xe đạp mà Lê Ngọc T dùng làm phương tiện chở mai đi gửi tại nhà Đinh Xuân T3 là của bà Võ Thanh T2 (mẹ của T) do bà T2 không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập đến xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Đặng Hữu P đã nhận lại được tài sản mất trộm nên không yêu cầu gì thêm.
Tại Cáo trạng số 11/CT-VKSTN ngày 06 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt truy tố Lê Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, thống nhất nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, bị cáo không có ý kiến gì khác.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm, đồng thời phát biểu quan điểm luận tội, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Ngọc T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Hình phạt bổ sung: do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Đặng Hữu P đã nhận lại được tài sản mất trộm nên không yêu cầu bồi thường vì vậy không đề cập giải quyết.
- - Về xử lý vật chứng: Trong điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là ông Đặng Hữu P 03 (ba) cây mai xong nên không đề cập giải quyết.
- Đối với xe đạp mà Lê Ngọc T dùng làm phương tiện chở mai đi gửi tại nhà Đinh Xuân T3 là của bà Võ Thanh T2 (mẹ của T) do bà T2 không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là phù hợp nên không đề cập giải quyết.
- - Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
- Bị cáo không tham gia tranh luận, đồng thời bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
- Về tố tụng: Tại phiên tòa có bị hại và người làm chứng vắng mặt. Xét thấy trong điều tra đã thu thập được lời khai của những người vắng mặt, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lại lời khai của những người vắng mặt tại Toà. Do đó, việc vắng mặt của những người liên quan và người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.
- Về nội dung:
Căn cứ khoản 1 Điều 7 Bộ luật hình năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định “Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện”. Hành vi phạm tội của Lê Ngọc T xảy ra năm 2014, thời điểm Bộ luật hình năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 có hiệu lực. Tình tiết định khung và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của T được quy định trong Bộ luật hình năm 1999 và Bộ luật hình năm 2015 là như nhau nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Bộ luật hình năm 2015 để xét xử đối với bị cáo là phù hợp.
Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ như: Các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai của bị hại, người làm chứng và kết luận định giá... Như vậy, có cơ sở để xác định vào ngày 22 tháng 01 năm 2014, tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, bị cáo Lê Ngọc T đã có hành vi lén lút lấy trộm 03 (ba) cây mai kiểng, loại mai ghép của bị hại ông Đặng Hữu P qua định giá có giá trị là 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng). Hành vi sai trái mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Xét thấy, bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ nhận thức để biết được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì mong muốn có tiền để tiêu xài mà không phải tốn công sức lao động chính đáng nên bị cáo bất chấp quy định của pháp luật thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, đồng thời còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Về nhân thân, bị cáo đang có tiền án về tội Trộm cắp tài sản nhưng không biết lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm cho bản thân, sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác khi có điều kiện. Ngoài ra, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo còn bỏ trốn khỏi địa phương gây khó khăn cho công tác điều tra, từ đó cho thấy bị cáo rất xem thường pháp luật. Do vậy, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Do bị cáo có tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên bị cáo phải gánh chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Về tình tiết giảm nhẹ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét đến thái độ khai báo của bị cáo trong điều tra và tại phiên tòa có thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, quá trình điều tra phía bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo tốt.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.
- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về vấn đề khác: Đối với ông Đinh Xuân T3 do T3 không biết mai Lê Ngọc T gửi là do trộm mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xét đến.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
- Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- * Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Hình phạt chính: Xử phạt Lê Ngọc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 16/10/2024.
- Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
- * Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Buộc bị cáo Lê Ngọc T nộp số tiền 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
- * Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
- * Về quyền, nghĩa vụ và thời hạn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Mộng Tuyền |
Bản án số 11/2025/HSST ngày 13/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 11/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lýsố 02/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo: Lê Ngọc T, sinh năm 1992 tại Cần Thơ; nơi đăng ký thường trú: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ
