TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST Ngày 13-02-2025 V/v “tranh chấp ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Đô
Ông Đồng Văn Diện
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 357/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hôn ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Phan Thị N, sinh năm 1972 (Có đơn xin vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ nơi ở hiện nay: Thôn A, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
-Bị đơn: Ông Ngô Quang D, sinh năm 1961 (vắng mặt)
Nơi thường trú: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn xin ly hôn cùng các lời khai tiếp theo nguyên đơn bà Phan Thị N trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Bà kết hôn với ông Ngô Quang D ngày 16/9/2011, trước khi cưới hai bên có tự do tìm hiểu thỏa thuận và đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L. Cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Vợ chồng chung sống đến khoảng đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng trong quan điểm sống về làm ăn phát triển kinh kế, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, và do mâu thuẫn giữa bà với con riêng của ông D, bà đã dọn về thôn A, xã H ở, vợ chồng sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ từ tháng 9/2024 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được bà làm đơn xin được ly hôn với ông Ngô Quang D.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
- Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Phan Thị N không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa bà Phan Thị N có đơn vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên và xin xét xử vắng mặt.
*Tại biên bản lấy lời khai bị đơn ông Ngô Quang D trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Ông kết hôn với bà Phan Thị N ngày 16/9/2011, trước khi cưới hai bên có tự do tìm hiểu thỏa thuận và đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L. Cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau ngay. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận không có mâu thuẫn gì, giữa bà N với con riêng của ông có những mâu thuẫn nhỏ, nên bà N đã dọn về thôn A, xã H để ở. Nay bà N làm đơn xin ly hôn ông không đồng ý.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung.
- Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Ông Ngô Quang D không đề nghị Tòa án giải quyết.
Do không đồng ý ly hôn nên ông đề nghị Tòa án cho phép ông vắng mặt tất cả quá trình tham gia tố tụng, tại phiên tòa ông Ngô Quang D vắng mặt.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn bà Phan Thị N từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa bà Phan Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông Ngô Quang D quá trình giải quyết vụ án có ý kiến xin vắng mặt tất cả quá trình tham gia tố tụng. Tại phiên tòa ông D được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228, Điều 238; Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Phan Thị N được ly hôn ông Ngô Quang D
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tiến hành tố tụng đảm bảo tuân theo đúng quy định của của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự không có khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Thẩm phán, Thư ký. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn bà Phan Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Ngô Quang D đã được Toà án triệu tập hợp lệ, quá trình giải quyết vụ án ông D có ý kiến xin vắng mặt tất cả quá trình tham gia tố tụng. Tại phiên tòa ông Ngô Quang D vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị N kết hôn với ông Ngô Quang D ngày 16/9/2011, trên cơ sở tự nguyện hợp pháp và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L. Kết hôn xong ông bà về chung sống với nhau ngay, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Ông bà chung sống đến khoảng đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bà N1 trình bày do tính tình vợ chồng không hợp nhau nên bất đồng trong quan điểm sống về làm ăn phát triển kinh tế, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Một phần nguyên nhân khác do bà N có mâu thuẫn với con riêng của ông D, nên từ tháng 9/2024 bà đã dọn về nhà riêng của bà ở thôn A, xã H để ở, ông bà cắt đứt mọi quan hệ tình cảm và kinh tế từ đó. Nay phía bà N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được bà xin được ly hôn với ông Ngô Quang D. Phía ông D trong quá trình giải quyết vụ án cho rằng giữa vợ chồng không có mâu thuẫn gì ông D không đồng ý ly hôn. Ông D xác nhận bà N có mâu thuẫn với con riêng của ông nên bà N đã dọn về nhà riêng của bà ở thôn A ở.
Hội đồng xét xử xét thấy, bà N và ông D trong thời gian chung sống vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ với nhau, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình; vợ chồng xảy ra mâu thuẫn xô sát và hiện tại đã sống ly thân từ tháng 9/2024 đến nay không quan tâm qua lại, chăm sóc gì cho nhau. Theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân với chính quyền địa phương nơi ông bà cư trú thấy, ông bà sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống hoà thuận, hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, bà N đã về nhà riêng ở thôn A ở từ tháng 9/2024 đến nay ông bà đang sống ly thân. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà N và ông D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho bà Phan Thị N được ly hôn ông Ngô Quang D.
[3] Về con chung: Bà Phan Thị N và ông Ngô Quang D không có con chung.
[4] Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Phan Thị N, ông Ngô Quang D không đề nghị gì, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bà Phan Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0003413 ngày 29/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[7] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 26, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Phan Thị N được ly hôn ông Ngô Quang D.
- Về án phí: Buộc bà Phan Thị N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0003413 ngày 29/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận bà Phan Thị N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Nh, ông D
