Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ MỸ HÀO

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST

Ngày 11/02/2025

“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thơm.

Các Hội thẩm nhân dân:- Ông Phan Xuân Hùng.

- Ông Nguyễn Xuân Khải.

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đăng Toàn - Thư ký của Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Khá - Kiểm sát viên.

Ngày 11/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình thụ lý số 116/2024/TLST-HNGĐ ngày 24/10/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24/01/2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Đặng Văn T, sinh năm 1962 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố S, phường M, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

* Bị đơn: Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1966 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường M, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

* Người làm chứng: Chị Đặng Thị Lan P, sinh năm 1998 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn B, xã D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn trình bày như sau:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Phạm Thị T1 đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M (nay là Ủy ban nhân dân phường M, thị xã M), tỉnh Hưng Yên năm 1985 và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn nên là vợ chồng hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng hiếm muộn về con cái nên đã cùng nhau chữa trị tại nhiều bệnh viện với hy vọng để có con chung nhưng bà T1 không thể mang thai. Trải qua nhiều năm như vậy nên vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn do không cùng quan điểm sống, dẫn đến ly thân từ năm 2010 đến nay không quan hệ vợ chồng và không có biện pháp gì để hắn gắn mâu thuẫn. Thực tế, từ khi ly ly thân, ông T thì vẫn cư trú và làm ăn tại Tổ dân phố S, phường M, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Còn bà T1 làm ăn sinh sống tại Tổ dân phố V, phường M, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Nay ông xác định, cuộc sống không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, thời gian ly thân đã lâu, mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn, hai bên không thể cùng nhau vun vén để xây dựng gia đình hạnh phúc nên không thể đoàn tụ được. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà T1 để mỗi bên ổn định cuộc sống riêng.

[2]. Về con chung: Ông T xác định vợ chồng không có con chung. Tuy nhiên, vào năm 1998 ông và bà T1 đã thống nhất nhận 01 người làm con nuôi và đặt tên là Đặng Thị Lan P, sinh ngày 21/10/1998. Mặc dù là con nuôi nhưng trong giấy khai sinh không thể hiện là bố mẹ nuôi mà vẫn thể hiện là họ tên bố là Đặng Văn T và mẹ là Phạm Thị Thư . Hiện tại chị P đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đã kết hôn tại thôn B, xã D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên và tự lo cho bản thân được. Vì vậy, ông không yêu cầu giải quyết về con chung, không yêu cầu giải quyết về con nuôi và cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.

[3]. Về tài sản chung: Ông xác định vợ chồng trước đây có 01 thửa đất chung tại địa chỉ Tổ dân phố S, phường M, thị xã M, tỉnh Hưng Yên nhưng ông không nhớ số thửa cụ thể và diện tích là bao nhiêu. Tuy nhiên vào khoảng năm 2017, ông và bà T1 đã thống nhất bán một phần. Số tiền bán đất có được bà T1 đã cầm là 1.200.000.000đ (Một tỷ, hai trăm triệu đồng) và sử dụng để mua 01 thửa đất tại Tổ dân phố V, phường M, thị xã M, tỉnh Hưng Yên và hiện tại bà T1 đã xây nhà và đang ở ổn định trên thửa đất này. Phần đất còn lại là ông sử dụng để ở cho đến hiện tại. Nên thực tế giữa ông và bà T1 đã tự thỏa thuận giải quyết xong về tài sản chung là đất rồi, mỗi bên đều đang sử dụng ổn định thửa đất của mình nên hai bên không còn liên quan gì đến nhau. Vì vậy, khi ly hôn ông tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn nếu bà T1 yêu cầu giải quyết về tài sản là việc của bà T1 và bà T1 phải làm thủ tục theo quy định của pháp luật.

[4]. Về nợ, công sức: Ông xác định vợ chồng không vay nợ ai, không ai vay nợ vợ chồng. Vợ chồng không đóng góp công sức gì đối với hai bên gia đình. Vì vậy, khi ly hôn ông tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5]. Về ruộng nông nghiệp: Ông và bà T1 kết hôn năm 1983 nên được chia chung ruộng nông nghiệp theo tiêu chuẩn của Nhà nước. Đối với tổng diện tích ruộng được chia do lâu ngày nên ông không nhớ cụ thể. Tuy nhiên, một phần ruộng nông nghiệp đã bị Nhà nước thu hồi. Số tiền được bồi thường hai vợ chồng đã tự chia nhau và sử dụng hết. Phần ruộng còn lại vẫn ở ngoài đồng nhưng ông không nhớ phần diện tích là bao nhiêu. Giữa ông và bà T1 tự thỏa thuận giải quyết với nhau và tự chia mỗi người một nửa. Bà T1 muốn nhận ruộng chỗ nào thì ông cũng nhất trí. Vì vậy, khi ly hôn ông tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn bà T1 yêu cầu giải quyết về ruộng nông nghiệp là việc của bà T1 và bà T1 phải làm thủ tục theo quy định của pháp luật.

* Bị đơn bà Phạm Thị T1 trình bày:

[5]. Về quan hệ hôn nhân: Như Giấy xác nhận kết hôn ông T đã gửi liên Tòa, vợ chồng kết hôn từ năm 1984. Sau đó, hai vợ chồng chung sống hòa thuận, bà có lao động kiếm tiền cùng chồng gây dựng nhà cửa; chăm sóc gia đình, bố mẹ chồng chu đáo từ lúc ông bà khỏe mạnh đến khi ông bà bệnh tật. Tuy nhiên, ông T lừa dối bà đi ngoại tình, sống chung và có con riêng với bà Vũ Thị T2, vi phạm Luật Hôn nhân và gia đình một vợ một chồng coi thường pháp luật. Ngoài ra còn lừa đuổi bà ra khỏi nhà, dắt nhân tình và con riêng về ngang nhiên sống chung ở chính nơi bà cũng dày công bao năm xây dựng, bà một mình phụ nữ yếu thế, không có con cái bảo vệ, chịu rất nhiều thiệt thòi. Nhưng từ khi kết hôn cho đến tận khi phát hiện ra chồng phản bội và đến tận bây giờ, dù chịu nhiều tổn thương, ấm ức nhưng chưa bao giờ có thái độ, lời nói, hành động gì không đúng mực với chồng, với gia đình nhà chồng.

[6]. Về tài sản, nợ, công sức: Bà T1 trình bày, bà và ông T đã kết hôn với nhau từ năm 1984, sau đó vài năm, có chung phần đất rộng 197m² trên thửa đất mã CN0319050004. Trong thời gian mới kết hôn, vì công việc không suôn sẻ, vợ chồng lâm vào cảnh nợ nần, bà đã phải đi lao động nước ngoài 03 năm để có tiền trả nợ và xây dựng, tu sửa thêm nhà ở tại thửa đất trên. Sau đó, vào năm 2018 vợ chồng đồng thuận bán 76,5m² đất cho ông Lưu Đình T3 và 02 vợ chồng cùng cầm tiền khi mối qun hệ vẫn hòa thuận. Nay còn 120,5m² tại địa chỉ số A, đường L thuộc tổ dân phố S, phường M, thị xã M, tỉnh Hưng Yên vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là công sức chung của cả 02 vợ chồng, cùng nhau góp công, góp của xây dựng nhà bao nhiêu năm.

[7]. Về ruộng nông nghiệp: Bà T1 trình bày, bà và ông T có được cấp chung phần ruộng nông nghiệp tại tổ dân phố S, phường M, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Hiện tại phần ruộng nông nghiệp vợ chồng ông bà có quyền sử dụng chung là phần ruộng được cấp cùng cả người khác, cụ thể: Ở Mả Khói Đạc 10 có 570m² chia làm 05 suất, vợ chồng bà chung 02 suất, còn lại 03 suất của ông Đặng Văn T4 (Cha của ông T); Ở cửa Đình Đạc 5 có 186m² chia làm 03 suất, vợ chồng tôi 02 suất, còn lại 01 suất của bà Đặng Thị Đ (chị của ông T); Ở Đồng Dõng Đạc 3 có 180m² của chung 02 vợ chồng.

Bà T1 cho rằng, từ những nội dung bà trình bày như trên thì bà đề nghị bác yêu cầu kiện ly hôn không giải quyết về tài sản của ông Đặng Văn T.

Trong quá trình giải quyết vụ án, để làm vấn đề yêu cầu về quan hệ hôn nhân, tài sản, nợ, công sức và ruộng nông nghiệp đối với phía bị đơn bà T1 là cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Tòa án đã ra Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ để yêu cầu bà T1 thực hiện việc cung cấp các chứng cứ, tài liệu liên quan đến quan hệ hôn nhân, việc ông T ngoại tình; về tài sản, nợ công sức và ruộng nông nghiệp. Nếu bà có yêu cầu gì xử lý về việc ông T ngoại tình thì Tòa án hướng dẫn bà nộp đơn đến cơ quan khác theo quy định của pháp luật vì Tòa án không có thẩm quyền xử lý sự việc này. Và nếu bà có yêu cầu giải quyết về tài sản, nợ, công sức vả ruộng nông nghiệp thì yêu cầu bà làm đơn, trong đơn nêu rõ đặc điểm, vị trí và giá trị tài sản tranh chấp để nộp cho Tòa án và thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bà T1 không cung cấp các tài liệu, chứng cứ gì và cũng không có ý kiến gì về toàn bộ các vấn đề này.

* Quan điểm của người làm chứng:

Chị Đặng Thị Lan P (là con nuôi của ông T và bà T1) trình bày: [8]. Về quan hệ hôn nhân: Bố mẹ nuôi của chị là ông Đặng Văn T và bà Phạm Thị T1 đã nhận nuôi chị từ nhỏ, lúc sinh ra được khoảng 03 tháng cho đến nay chị đã trưởng thành, tự lo cho bản thân. Chị được biết, trong quá trình chung sống bố mẹ nuôi đã xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp nhau về quan điểm sống, thường xuyên xảy ra to tiếng, cãi vã, dẫn đến việc của ai người ấy lo, thu nhập của ai người đó quản lý. Chị đã nhiều lần nói chuyện, trao đổi với bố mẹ để bỏ qua mâu thuẫn nhưng hai bên vẫn không tìm được tiếng nói chung. Thực tế bố mẹ nuôi đã ly thân nhau từ năm 2012 đến nay, không qua lại với nhau, không quan hệ vợ chồng. Và nay bố chị làm đơn xin ly hôn thì quan điểm của chị là việc ở được với nhau hay không là do bố mẹ tự quyết định và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; Về tài sản chung của bố mẹ nuôi: Chị được biết có 01 thửa đất và bố mẹ nuôi của chị đã tự thỏa thuận chia đôi. Phần đất của mẹ nuôi thì đã bán, sau đó đã mua đất khác và bà T1 đang ở. Còn phần đất của bố chị là ông T thì ông T vẫn sử dụng cho đến nay. Nên về nhà và đất thì bố mẹ nuôi của chị đã tự chia xong rồi, còn các tài sản khác thì chị không biết; Về nợ và ruộng nông nghiệp: Chị không biết cụ thể như thế nào nên chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; Giữa chị và ông T, bà T1 không liên quan gì về tài sản, kinh tế, vay nợ, công sức nên chịi tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quan điểm của Ủy ban nhân dân phường M xác định: Ông Đặng Văn T và bà Phạm Thị T1 đăng ký kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân phường M, huyện M (nay là phường M, thị xã M), tỉnh Hưng Yên năm 1985. Trong quá trình chung sống, giữa ông T và bà T1 đã phát sinh mâu thuẫn cụ thể thế nào thì địa phương chưa nắm được nhưng thực tế hiện tại ông, bà mỗi người sống một nơi cũng đã lâu. Nay ông T làm đơn xin ly hôn với bà T1 và đã trình bày cụ thể nguyên nhân mâu thuẫn, lý do ly hôn, điêu đó đã chứng tỏ tình cảm vợ chồng vẫn chưa được cải thiện. Vì vậy, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; Về con chung của ông bà: Địa phương được biết, ông T và bà T1 không có con chung. Tuy nhiên, ông bà có 01 con nuôi là chị Đặng Thị Lan P, sinh năm 1998, hiện tại đã trưởng thành, đã kết hôn và có cuộc sống riêng nên địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; Về các vấn đề khác, địa phương đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng bà T1 đều vắng mặt không có lý do nên không hòa giải được, do đó phải đưa vụ kiện ra xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay:

Vắng mặt nguyên đơn là ông Đặng Văn T (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt); vắng mặt bị đơn là bà Phạm Thị T1; vắng mặt người làm chứng là chị P.

Bị đơn là bà Phạm Thị T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.

Chủ toạ phiên toà công bố đơn đề nghị giải quyết vắng mặt của nguyên đơn ông Đặng Văn T; tóm tắt nội dung khởi kiện của ông T và công bố lời trình bày của bị đơn bà T1 cũng như của những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên toà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Toà án thụ lý vụ án, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tiến hành mở phiên họp kiểm tra về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, lập biên bản không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử độc lập, Thẩm phán và Thư ký chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của ông Đặng Văn T, giải quyết cho ông T ly hôn bà T1; Về con chung, con nuôi: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này; Về tài sản, nợ, công sức và ruộng nông nghiệp: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này, nếu sau này các bên có yêu cầu mà có căn cứ sẽ được xem xét, giải quyết bằng một vụ án khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ông Đặng Văn T và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M (nay là Ủy ban nhân dân phường M, thị xã M), tỉnh Hưng Yên năm 1985 và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn là đúng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Nay ông Đặng Văn T khởi kiện xin ly hôn với bà Phạm Thị T1 nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn là bà T1 có địa chỉ đăng ký thường trú và cư trú tại tổ dân phố V, phường M, thị xã M nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, vắng mặt nguyên đơn là ông T (có đơn xin giải quyết vắng mặt); vắng mặt bị đơn là bà T1 lần thứ hai không có lý do; vắng mặt người làm chứng là chị P nhưng đã có lời khai đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án xét xử vắng mặt tất cả những người này là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Lời trình bày của ông Đặng Văn T, bà Phạm Thị T1 và chị Đặng Thị Lan P đã thể hiện rõ trong quá trình chung sống giữa ông T và bà T1 đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, thời điểm mâu thuẫn căng thẳng nh năm 2024 cho đến nay. Về nguyên nhân mâu thuẫn là do hai bên bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng ly thân từ năm 2010 đến nay không quan hệ vợ chồng. Ông, bà đã cố gắng hàn gắn mâu thuẫn nhưng không được, vẫn đang ly thân nhau. Nay ông xác định, cuộc sống không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, trầm trọng và đến nay hai bên vẫn không tìm được tiếng nói chung. Đối với bà T1, không thiện chí làm việc, thể thiện qua việc bà vắng mặt trong các phiên hoà giải, thể hiện thái độ buông xuôi, bỏ mặc cuộc hôn nhân. Việc bà T1 không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tất cả những điều trên đã cho thấy tình cảm yêu thương gắn bó giữa ông bà không còn, phản ánh đúng thực trạng hôn nhân của vợ chồng là mâu thuẫn đã trầm trọng, có đầy đủ căn cứ cho ly hôn, cũng phù hợp với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án sẽ chấp nhận đơn khởi kiện của ông Đặng Văn T và giải quyết cho ông T được ly hôn với bà T1 để mỗi bên ổn định cuộc sống.

[3] Về con chung, con nuôi: Căn cứ lời trình bày của ông T, chị P và nội dung cung cấp của Ủy ban nhân dân phường M có đủ căn cứ xác định giữa ông T và bà T1 không có con chung. Tuy nhiên, ông T và bà T1 có 01 con nuôi là chị Đặng Thị Lan P, sinh năm 1998, hiện tại đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đã kết hôn và có cuộc sống riêng. Ông T tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn đối với bà T1 không có ý kiến gì. Vì vậy, không đặt ra để giải quyết.

[4] Về tài sản, nợ, công sức và ruộng nông nghiệp:

Ông T giao nộp bản phô tô Giấy biên nhận tiền chuyển nhượng đất và xác định giữa ông và bà T1 đã tự thỏa thuận giải quyết xong về tài sản chung là đất rồi, mỗi bên đang sử dụng ổn định thửa đất của mình nên hai bên không còn liên quan gì đến nhau nên ông tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, nợ, công sức và ruộng nông nghiệp. Quan điểm của ông T đã phù hợp với quan điểm của người làm chứng là chị P và cũng là con nuôi của ông, bà.

Đối với bà T1, trong quá trình giải quyết vụ án đã trình bày quan điểm về yêu cầu giải quyết về tài sản chung và ruộng nông nghiệp. Tòa án đã ra Quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ để yêu cầu bà T1 thực hiện việc cung cấp các chứng cứ, tài liệu liên quan đến tài sản, nợ, công sức và ruộng nông nghiệp nhưng bà T1 không cung cấp các tài liệu, chứng cứ gì và cũng không có đơn yêu cầu phản tố theo quy định của pháp luật. Vì vậy, không đặt ra giải quyết trong vụ án này, nếu sau này các bên có yêu cầu mà có căn cứ sẽ được xem xét, giải quyết bằng một vụ án khác.

[5] Về án phí: Ông Đặng Văn T phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ông Đặng Văn T được ly hôn bà Phạm Thị Thư.

[2]. Về con chung, con nuôi: Không đặt ra giải quyết.

[3]. Về tài sản, nợ, công sức và ruộng nông nghiệp: Không đặt ra giải quyết trong vụ án này, nếu sau này các bên có yêu cầu mà có căn cứ sẽ được xem xét, giải quyết bằng một vụ án khác.

[4]. Về án phí: Ông Đặng Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm ly hôn. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) ông T nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003484 nguy 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Ông Đặng Văn T đã nộp xong án phí sơ thẩm ly hôn.

[5]. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Mỹ Hào;
  • - Chi cục T.H.A DS thị xã Mỹ Hào;
  • - Phòng KTNV và THA - Toà án tỉnh Hưng Yên;
  • - Nguyên đơn;
  • - Bị đơn;
  • - UBND phường Minh Đức;
  • - Lưu HS vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thơm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 11/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa ông Thông - bà Thư
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger