TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HS-PT Ngày: 10/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Vân
Các Thẩm phán: Ông Bùi Thanh Quốc
Bà Lê Thị Minh Trang
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Lộc – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 176/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Thị T, Lê Thị Mỹ T1 do có kháng cáo của các bị cáo và người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2024/HS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
- Bị cáo bị kháng cáo:
- Nguyễn Thị T, sinh ngày 29/5/2001 tại Đồng Tháp. Nơi cư trú: Khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn T2 (còn sống) và bà Lê Thị T3 (còn sống); em ruột: 01 người, sinh năm 2007; chồng: Võ Thành K, sinh năm 1992; con: 02 người: sinh năm 2021 và 2023. Tiền án, tiền sự: Chưa.
- Lê Thị Mỹ T1, sinh ngày 07/3/2000 tại Đồng Tháp. Nơi cư trú: Số G, ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K1 (còn sống) và bà Lương Thị Bé H (còn sống); anh, chị, em ruột: 07 người; chồng: Lại Văn T4, sinh năm 1993; con: 02 người, sinh năm 2017 và 2022. Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Bà Lê Thị Mỹ D, sinh năm 2004.
Nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ (Có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại: Luật sư Nguyễn Quốc K2 – Công ty L1, thuộc Đoàn luật sư thành phố C (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mâu thuẫn trong lúc đi làm nên Nguyễn Thị T và Lê Thi M Diệu hẹn nhau để nói chuyện giải quyết tại quán K3 thuộc khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Khoảng 14 giờ ngày 20/4/2024, T đến phòng trọ của Lê Thị Mỹ T1 (dì ruột T) để kể lại sự việc và cho T1 xem tin nhắn giữa T với D. Do đi một mình sợ bị nhóm của D đánh nên T rủ T1 đi cùng đến điểm hẹn, nếu xảy ra đánh nhau thì có T1 hỗ trợ thì Tiên đồng Ý. Khoảng 17 giờ cùng ngày, T, T1 và Lê Thị Thùy L đi đến karaoke Nhật Q để gặp D. Tại đây, giữa D và T xảy ra cự cãi, trong lúc D và T cự cãi thì T1 nhiều lần nói lớn “Hai đứa sô lô đi” để xúi giục D và T đánh nhau giải quyết mâu thuẫn. Từ câu nói của T1, D trả lời “đánh chi dơ tay” nên T đã nhào đến đánh nhau với D. Trong lúc đánh nhau, T dùng dao rọc giấy để gây thương tích cho D ở vùng mặt thì được mọi nguời can ngăn nên dừng lại, D được đưa đến Bệnh viện Đ để điều trị. Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 230/KLTTCT- TTPYCT ngày 13/5/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế thành phố C kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Thị Mỹ D tại thời điểm giám định là 6%. Lê Thị Mỹ D có đơn yêu cầu khởi tố đối với Nguyễn Thị T và Lê Thị Mỹ T1. Tang vật thu giữ: 01 cây dao rọc giấy cán cầm bằng nhựa màu đen, trắng, tổng chiều dài 09cm; lưỡi 03cm; bề rộng lưỡi 0,9cm. Về phần dân sự: Nguyễn Thị T và Lê Thị Mỹ T1 đã cùng nhau bồi thường cho Lê Thị Mỹ D số tiền 30.000.000 đồng, chị D tiếp tục yêu cầu cả hai bồi thường cho D số tiền 300.000.000 đồng. Đối với hành vi của Lê Thị Mỹ D đánh Nguyễn Thị T nhưng không để lại thương tích. Hiện Thùy không yêu cầu xử lý hành vi của D nên không xem xét xử lý trong vụ án này.
Tại cáo trạng số 87/CT- VKSOM ngày 09/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn truy tố Nguyễn Thị T và Lê Thị Mỹ T1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 81/2024/HS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị T và Lê Thị Mỹ T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) năm tù.
- Xử phạt bị cáo Lê Thị Mỹ T1 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày các bị cáo chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc các bị cáo đã bồi thường cho chị Lê Thị Mỹ D số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Tại phiên tòa bị hại trình bày do quá trình điều trị lâu dài, hiện tại chưa xác định được số tiền cụ thể nên sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác sau khi điều trị xong thương tích; đây là sự tự nguyện của người bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 07/10/2024 và ngày 08/10/2024 các bị cáo Lê Thị Mỹ T1, Nguyễn Thị T kháng cáo xin được hưởng án treo để có điều kiện lao động chăm sóc gia đình và bản thân. Ngày 10/10/2024 người bị hại Lê Thị Mỹ D kháng cáo yêu cầu tăng nặng hình phạt đối với hai bị cáo và yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 300.000.000 đồng.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo vẫn giữ yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
- Người bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và rút kháng cáo đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại.
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại – Luật sư Nguyễn Quốc K2 phát biểu: Cấp sơ thẩm chưa đánh giá đúng vai trò của bị cáo T1, xuất phát từ lời xúi giục của bị cáo T1 nên bị cáo T mới đánh người bị hại. Sau khi sự việc xảy ra cho đến nay bị cáo T1 chưa một lần xin lỗi người bị hại, đề nghị không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T1 do chưa thật sự ăn năn hối cải.
- Bị cáo T dùng dao gây thương tích vào vùng mặt của người bị hại, ngoài việc tổn thương có thể còn gây mất thẩm mỹ, hình phạt quyết định đối với bị cáo T chưa tương xứng với hậu quả đã gây ra cho người bị hại.
- Chi phí khắc phục hậu quả mà người bị hại bỏ ra rất cao nhưng các bị cáo chỉ mới bồi thường cho người bị hại số tiền 30.000.000 đồng, cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là chưa phù hợp.
3
Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà các bị cáo sử dụng hung khí gây thương tích cho người bị hại nên đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, chấp nhận kháng cáo của người bị hại tăng hình phạt đối với bị cáo T1 từ 09 tháng đến 15 tháng tù; đối với bị cáo T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà phân tích tính chất, mức độ, hậu quả từ hành vi các bị cáo đã thực hiện và nhận định: Bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên là tương xứng, đã xem xét toàn diện về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, người bị hại không cung cấp thêm chứng cứ nào mới để làm cơ sở tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại, người bị hại đã tự nguyện ghi nhận ở cấp sơ thẩm do chưa xác định được số tiền cụ thể nên sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác khi có yêu cầu của người bị hại. Tại phiên tòa phúc thẩm người bị hại xác định đối với phần yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần và mất thu nhập trong thời gian điều trị người bị hại chưa yêu cầu giải quyết ở cấp sơ thẩm, đối với chi phí điều trị người bị hại chưa thu thập được tài liệu, chứng cứ để chứng minh thiệt hại nên rút yêu cầu kháng cáo là sự tự nguyện đề nghị đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo này của người bị hại; đề nghị ghi nhận việc người bị hại có quyền khởi kiện các bị cáo về việc yêu cầu bồi thường để được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác như cấp sơ thẩm đã tuyên. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của các bị cáo và người bị hại trong thời hạn luật định nên yêu cầu kháng cáo của các bị cáo và người bị hại đủ điều kiện để được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:
[2.1] Bị cáo Nguyễn Thị T và người bị hại Lê Thi M Diệu có mâu thuẫn với nhau từ trước, hai bên có nhắn tin hẹn gặp nhau để giải quyết mâu thuẫn. Ngày 20/4/2024 bị cáo T đến nhà trọ của bị cáo T1 và cho T1 xem tin nhắn giữa người bị hại D và T hẹn gặp nhau để giải quyết mâu thuẫn cá nhân, T rủ T1 đi cùng để hỗ trợ Thùy khi bị D đánh thì Tiên đồng Ý. Khi đến điểm hẹn lúc T và D cãi nhau, T1 có xúi giục Thùy: “vậy thôi hai đứa mày vô sô lô đi”, khi đó D nói: “đánh chi dơ tay” thì T đã dùng tay nắm tóc và đánh hai, ba cái trúng vào vùng mặt của D, trong lúc đánh nhau T dùng dao rọc giấy gây thương tích cho D ở vùng mặt.
[2.2] Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 230/KLTTCT- TTPYCT ngày 13/5/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế thành phố C kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lê Thị Mỹ D tại thời điểm giám định là 6%.
[2.3] Bị cáo T là người dùng dao gây thương tích cho người bị hại. Bị cáo T1 nhận lời rủ của bị cáo T, cùng đi để hỗ trợ Thùy khi có xảy ra đánh nhau. Lúc bị cáo T và người bị hại cự cãi bị cáo T1 không can ngăn mà còn xúi giục T và D “Sô lô” với nhau. Tiếp theo lời xúi giục của bị cáo T1, bị cáo T đã xông tới nắm tóc, đánh vào mặt và dùng dao rọc giấy gây thương tích cho người bị hại ở vùng mặt. Với hành vi, hung khí các bị cáo sử dụng và tỷ lệ tổn thương cơ thể của người bị hại được xác định qua giám định cấp sơ thẩm truy tố, xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
5
[3] Sau khi tuyên án sơ thẩm, người bị hại kháng cáo yêu cầu xem xét tăng nặng hình phạt đối với các bị cáo và yêu cầu các bị cáo bồi thường 300.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Thị T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, bị cáo Lê Thị Mỹ T1 kháng cáo xin được hưởng án treo.
[3.1] Đối với kháng cáo của người bị hại về việc yêu cầu tăng nặng hình phạt đối với các bị cáo và kháng cáo của các bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo, xét thấy:
Các bị cáo thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến thân thể, gây tổn hại sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo đều đã trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đã thực hiện là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nên cần có hình phạt nghiêm để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình tố tụng đã thành khẩn khai báo và khắc phục hậu quả cho người bị hại với số tiền 30.000.000 đồng; do người bị hại chưa xác định được tổng chi phí điều trị nên cấp sơ thẩm xem xét áp dụng cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp, mức hình phạt đã tuyên tương xứng với mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo. Việc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội có thời hạn để cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung như cấp sơ thẩm đã nhận định là có cơ sở. Ở giai đoạn phúc thẩm, người bị hại và các bị cáo không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào mới nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị hại và của các bị cáo.
6
[3.2] Đối với kháng cáo của người bị hại về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại với số tiền 300.000.000 đồng:
Ở giai đoạn sơ thẩm bị cáo đã bồi thường cho người bị hại 30.000.000 đồng, tại phiên tòa sơ thẩm người bị hại trình bày quá trình điều trị thương tích kéo dài và tốn nhiều chi phí nên người bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm số tiền 270.000.000 đồng, do chưa có hóa đơn chứng từ liên quan đến việc điều trị thương tích nên người bị hại sẽ yêu cầu thành vụ kiện khác khi có đầy đủ chứng cứ chứng minh. Cấp sơ thẩm ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường cho người bị hại và dành quyền khởi kiện cho người bị hại khi có đầy đủ tài liệu chứng cứ chứng minh thiệt hại để được xem xét trong vụ án khác là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm người bị hại rút yêu cầu kháng cáo đối với yêu cầu bồi thường để có thời gian thu thập thêm tài liệu chứng cứ nên thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu này và dành quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại cho người bị hại để được xem xét theo thủ tục tố tụng dân sự.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo và người bị hại phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối kháng cáo yêu cầu bồi thường thiệt hại của người bị hại Lê Thị Mỹ D; Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị T, Lê Thị Mỹ T1 về việc yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại Lê Thị Mỹ D về việc yêu cầu tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 81/2024/HS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị T, Lê Thị Mỹ T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 17; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- - Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Mỹ T1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị cáo Nguyễn Thị T, Lê Thị Mỹ T1 đã khắc phục hậu quả cho người bị hại Lê Thị Mỹ D số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng. Người bị hại được quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với các bị cáo sau khi điều trị xong thương tích để được xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
- Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị T, Lê Thị Mỹ T1 và người bị hại Lê Thị Mỹ D mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Bích Vân |
7
Bản án số 11/2025/HS-PT ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 11/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
