TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HSST Ngày 10/02/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC TỈNH HẢI DƯƠNG
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị May và ông Phạm Duy Hiển.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Khoa Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc.
- Đại diện VKSND huyện Gia Lộc tham gia phiên tòa: Ông Trần Đình N - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an huyện G (gồm có bà Nguyễn Thị T- Kiểm sát viên; ông Vũ Hoàng L- Thư Ký; ông Phạm Thành V - Cán bộ Nhà tạm giữ Công an huyện G); xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2024/TLST-HS ngày 29/11/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HS ngày 23/01/2025; đối với các bị cáo:
Họ và tên Bùi Hương L1, sinh năm 2005 tại thành phố H. Nơi thường trú: Số A A, khu I, phường B, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc kinh; Giới tính nữ; Tôn giáo không; Quốc tịch Việt Nam; con ông Bùi Quý D và con bà Tăng Thị H; bị cáo chưa có chồng, con.
Nhân thân, Tiền án, Tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/10/2024, chuyển tạm giam từ ngày 01/11/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (có mặt).
Họ và tên Hoàng Anh T1, sinh năm 2006 tại Hải Dương. Nơi thường trú: Thôn P, xã L, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc kinh; Giới tính nam; Tôn giáo không; Quốc tịch Việt Nam; con ông Hoàng Văn T2 và con bà Lê Thị H1; bị cáo chưa có vợ, con.
Nhân thân, Tiền án, Tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/10/2024, chuyển tạm giam từ ngày 01/11/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện G, tỉnh Hải Dương (có mặt).
Người làm chứng:
- Anh Phạm Văn C, sinh ngày 02/3/2007; Người giám hộ: ông Hoàng Văn T2 (bố đẻ) và ông Đỗ Đức T3- Bí thư đoàn TNCSHCM thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương;
- Anh Như Q, sinh năm 1992.
(những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Anh T1 và anh Phạm Văn C, sinh ngày 02/3/2007 là bạn bè. Khoảng 19 giờ ngày 22/10/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy T4 nên anh C dùng tài khoản “Pham van cao” nhắn tin M vào tài khoản “Hoang Thế” của T1 hỏi chỗ nào bán ma tuý loại Tobaco, T1 trả lời là còn và mua ở chỗ Bùi Hương L1; Cao hỏi mua 01 túi ma tuý Tobaco thì T1 bảo trả tiền trước qua tài khoản ngân hàng V1 số 1043407042 mang tên Hoang Anh T5. Trưa ngày 23/10/2024, C nhắn tin cho T1 bảo muốn mua 02 túi ma tuý T4; T1 báo giá 400.000 đồng/1 túi, bảo Cao chuyển tổng là 820.000 đồng/2 túi (20.000 đồng là T1 thu thêm tiền xăng xe); C bảo T1 đi lấy ma tuý rồi C chuyển tiền. Đến 17 giờ 40 phút cùng ngày, C đến quán điện thoại của anh Nguyễn Như Q, nhờ anh Q chuyển 800.000 đồng cho T1 nhưng anh Q bảo chỉ còn 790.000 đồng nên đã chuyển hộ Cao số tiền 790.000 đồng đến tài khoản số 1043407042 ngân hàng V1 tên “Hoang Anh T5”. T1 nhận được tiền mua ma túy của C, T1 nhắn tin cho Bùi Hương L1 qua tài khoản Messenger của L1 tên “Phuong nhi” để giao dịch mua 02 túi ma túy Tobaco; L1 báo giá với Thế là 285.000 đồng/1 túi. Sau đó, L1 và Thế hẹn gặp nhau tại khu vực Trường THCS T6, phường T, TP H để mua bán ma túy. Khoảng gần 18 giờ cùng ngày, T1 đi xe máy Honda Wave (mượn của ông Hoàng Văn T2 là bố đẻ) đến điểm hẹn gặp L1; L1 đưa cho T1 02 túi ma túy; T1 trả tiền 571.000 đồng (gồm 570.000 đồng là tiền mua 02 túi ma túy T4 và 1.000 đồng là tiền dư T1 cho L1) vào tài khoản ngân hàng M1 số 0703448628 mang tên Bùi Hương L1. T1 cầm 02 túi ma túy về khu vực cổng Trường THPT G để giao bán cho C. Khi T1 đang chuẩn bị đưa ma tuý cho anh C thì lực lượng Công an huyện G bắt quả tang có sự chứng kiến của ông Bùi Đức C1; thu giữ: 02 túi nilon có khóa ríp trong suốt, bên trong có các sợi thực vật khô màu nâu vàng trong túi quần đùi bên trái T1 đang mặc; 01 xe máy Honda Wave; 01 điện thoại Iphone 11; quản lý của anh C 01 điện thoại Iphone 7.
Sau khi biết T1 bị bắt, Bùi Hương L1 đã đến Công an huyện G đầu thú, khai nhận hành vi đã bán 02 túi ma túy Tobaco cho T1. L1 tự nguyện giao nộp 02 túi nilon chứa ma túy Tobaco có đặc điểm tương tự như 02 túi nilon thu giữ của Thế A. Ly khai nguồn gốc các túi ma túy này mua của người tên Quang Al có tài khoản mạng An Dĩ P với giá 200.000 đồng/01 túi và bán cho T1 với giá 285.000 đồng/1 túi.
Ngày 25/10/2024, Công an huyện G có công văn trao đổi với Công an thành phố H về thẩm quyền thụ lý, giải quyết. Công an huyện G ban hành lệnh phong toả tài khoản của Bùi Hương L1 và Hoàng Anh T1;
Ngày 31/10/2024 và ngày 22/11/2024, Công an huyện G đã trả chiếc điện thoại Iphone 7 cho anh Phạm Văn C và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda cho ông Hoàng Văn T2.
Kết luận giám định số 8275/KL-KTHS ngày 30/10/2024, V2 Bộ C2 đã kết luận:
- Các mẫu thực vật khô trong niêm phong kí hiệu Al gửi giám định đều chứa chất ma túy MDMB- 4en-PINACA, MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA. Tổng khối lượng mẫu là 4,057 gam. Khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA có trong mẫu là 0,007 gam.
- Các mẫu thực vật khô trong niêm phong kí hiệu M gửi giám định đều chứa chất ma túy MDMB- 4en-PINACA, MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA. Tổng khối lượng mẫu là 3,956 gam. Khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA có trong mẫu là 0,007 gam.
- V2 hiện không có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA nên không xác định được hàm lượng, để từ đó xác định khối lượng các chất ma túy này.
Cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 27/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố các bị cáo Bùi Hương Ly và Hoàng Anh Thế về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo L1 thừa nhận đã mua ma tuý của người lạ trên mạng để bán lại cho T1 để kiếm lời; T1 thừa nhận mua ma túy của L1 về bán lại cho anh C sử dụng để kiếm lời. Các bị cáo đều khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố các bị cáo về tội danh, khung khoản là đúng; các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận giám định.
Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Hương L1 và Hoàng Anh T1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 đối với 2 bị cáo; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo L1; Điều 38 Bộ luật hình sự; các Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Bùi Hương L1 từ 25 đến 27 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 23/10/2024. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Hoàng Anh T1 từ 24 đến 26 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 23/10/2024. Về hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng.
Áp dụng Điều 129 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục thực hiện lệnh phong tỏa tài khoản số 483/LPT - ĐCSHS ngày 05/11/2024 và biên bản phong toả tài khoản ngày 06/11/2024 đối với tài khoản số 1043407042 tại Ngân hàng TMCP N1, chủ tài khoản Hoàng Anh T1, phong toả số tiền 220.000 đồng và Lệnh phong toả tài khoản 495/LPT-ĐCSHS ngày 13/11/2024 và biên bản phong toả tài khoản ngày 13/11/2024 đối với số tài khoản 0703448628 tại Ngân hàng M2 chi nhánh H2, mang tên Bùi Hương L1, phong toả số tiền 570.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu huỷ toàn bộ mẫu vật hoàn trả lại trong phong bì niêm phong và 02 sim điện thoại; Tịch thu sung quỹ 02 điện thoại.
Về án phí: Các bị cáo Bùi Hương L1 và Hoàng Anh T1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận: Các bị cáo L1 và T1 không có ý kiến tranh luận;
Lời nói sau cùng trong phiên tòa: Bị cáo đều xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Sau khi có công văn trao đổi về thẩm quyền thụ lý vụ việc xảy ra tại địa bàn thành phố H, do Công an huyện G phát hiện. Công an huyện G và Công an thành phố H đã thống nhất Công an huyện G thụ lý, giải quyết hành vi của bị cáo L1 trong cùng 1 vụ án; Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G đã khởi tố vụ án, khởi tố hai bị cáo L1, T1 và thực hiện lệnh phong toả tài khoản của bị cáo Bùi Hương L1 và Hoàng A2 Thế là có căn cứ;
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo và người làm chứng là anh C, người chứng kiến trong giai đoạn điều tra; phù hợp biên bản bắt người phạm tội quản tang, vật chứng thu giữ; Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Chiều tối ngày 23/10/2024, tại khu vực Trường THCS T6, phường T, thành phố H, Bùi Hương L1 có hành vi bán trái phép cho Hoàng A2 Thế 02 túi sợi thực vật khô tổng khối lượng 3,956 gam, bên trong các sợi thực vật khô có chứa chất ma túy MDMB-4en-PINACA, MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA, khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA là 0,007 gam với số tiền 570.000đồng. Sau khi mua được 02 túi ma túy nêu trên, Hoàng Anh T1 đem đến khu vực cổng Trường THPT G, thị trấn G, huyện G để bán lại cho anh Phạm Văn C, sinh ngày 02/3/2007 số tiền 790.000 đồng để anh C sử dụng, thì bị bắt quả tang. Ngoài ra, còn thu giữ của bị cáo L1 02 túi ma túy dạng sợi thực vật khô có khối lượng 4,057 gam chứa các chất ma túy MDMB-4en-PINACA, MDMB-BUTINACA và MDMB-INACA, khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA là 0,007 gam, mục đích để Bùi Hương L1 bán kiếm lời. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ ma túy có tác hại xấu đến sức khỏe con người và pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi liên quan đến ma túy nhưng vì kiếm lời nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Xét về hành vi và chất MDMB-4en-PINACA có nằm trong danh mục các chất ma túy quy định tại Nghị Định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022; mà các bị cáo đã và đang chuẩn bị bán đã đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố bị cáo Bùi Hương L1 và Hoàng A2 Thế là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây mất trật tự trị an xã hội mà còn là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác nên cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
[4] Bị cáo L1, bị cáo T1 đều vì mục đích kiếm lời và thực hiện hành vi độc lập, không có sự bàn bạc từ trước nên mỗi bị cáo phải tự chịu trách nhiệm hình sự độc lập về hành vi phạm tội của mình.
[5] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, HĐXX thấy rằng:
các bị cáo đều chưa có tiền án tiền sự nên xác định các bị cáo là những người có nhân thân tốt. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho cả hai bị cáo. Sau khi biết bị cáo T1 bị bắt, Cơ quan điều tra chưa triệu tập bị cáo L1 nhưng bị cáo L1 đã tự đến Cơ quan điều Công an huyện G đầu thú; do vậy HĐXX cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, các bị cáo còn trẻ mà đã có tư tưởng kiếm lời từ ma túy nên cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo có thời gian cải tạo và phòng ngừa chung.
[6]. Về hình phạt bổ sung:
các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và hiện nay đang tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
Số ma túy hoàn lại sau giám định là chất Nhà nước cẩm lưu hành; các vỏ bao gói mẫu không còn giá trị sử dụng, trong niêm phong số 8275/LK-KTHS của V2 Bộ C2, HĐXX tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen có lắp sim số 0898874116 của bị cáo L1 và điện thoại Iphone 11 màu đen có lắp sim số 0379798485 của bị cáo T1 đều sử dụng liên lạc mua bán ma túy, xác định là công cụ các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX tịch thu sung ngân sách nhà nước giá trị 2 chiếc điện thoại này. Tại phiên toà các bị cáo đều xác định không còn tiền trong các tài khoản nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX tịch thu tiêu huỷ 02 xác sim số 0898874116 và số 0379798485;
Kiến nghị tập đoàn V3 và tập đoàn V4 thu hồi 02 số thuê bao nêu trên.
Đối với số tiền 570.000đ trong tài khoản của bị cáo L1 và 220.000đ trong tài khoản của bị cáo T1, là tiền các bị cáo mua bán ma túy mà có; xác định là phương tiện các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, hiện nay đang nằm trong các tài khoản của bị cáo L1 và bị cáo T1 nên việc Công an huyện G đã ra Lệnh phong tỏa tài khoản của hai bị cáo là có căn cứ; cần giữ nguyên các lệnh phong tỏa này để đảm bảo cho đến khi thi hành án xong theo quy định tại Điều 129 Bộ luật tố tụng hình sự.
[8]. Về các vấn đề khác:
Anh Cao đặt mua ma túy của bị cáo T1 mục đích để sử dụng và anh C chưa nhận được ma túy; anh Nguyễn Như Q không biết việc anh C nhờ chuyển tiền hộ để mua ma túy; ông Hoàng Văn T2 là bố đẻ bị cáo T1 cho bị cáo mượn xe nhưng không biết bị cáo T1 sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên không đặt ra xử lý.
Quá trình điều tra không xác định được người đàn ông tên Quang Al bán ma túy cho bị cáo L1 là ai, ở đâu nên không có căn cứ xử lý.
[9]. Về án phí:
Các bị cáo bị kết án, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo L1 và T1. Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo L1;
Tuyên bố bị cáo Bùi Hương L1, bị cáo Hoàng Anh T1, phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Bùi Hương L1 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 23/10/2024.
Xử phạt bị cáo Hoàng Anh T1 02 (hai) năm tù, thời hạn tính từ ngày 23/10/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106; Điều 129 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy phong bì niêm phong số 8275/KL-KTHS của V2 - Bộ C2 (bên trong có ma túy hoàn lại sau giám định); các vỏ bao; xác sim số 0898874116 và xác sim số 0379798485.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, số IMEI 35917907894050.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen, số IMEI 355487731290946.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 570.000đồng của bị cáo Bùi Hương L1 được trích từ tài khoản 0703448628 tại Ngân hàng M2 chi nhánh H2 chủ tài khoản Bùi Hương L1.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 220.000đồng của bị cáo Hoàng Anh T1 được trích từ tài khoản 1043407042 tại Ngân hàng thương mại cổ phần N1 chủ tài khoản Hoàng Anh T1.
(Đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/12/2024).
Tiếp tục duy trì lệnh phong tỏa tài khoản số 483/LPT-ĐCSHS ngày 05/11/2024 kèm biên bản phong tỏa tài khoản ngày 05/11/2024 của Hoàng Anh T1 số tiền 220.000đồng trong tài khoản 1043407042 tại Ngân hàng thương mại cổ phần N1 để đảm bảo thi hành án.
Tiếp tục duy trì lệnh phong tỏa tài khoản số 495/LPT-ĐCSHS ngày 13/11/2024 kèm biên bản phong tỏa tài khoản ngày 13/11/2024 của Bùi Hương L1 số tiền 570.000đồng trong tài khoản 0703448628 tại Ngân hàng M2 chi nhánh H2 để đảm bảo thi hành án.
Kiến nghị tập đoàn V3 thu hồi số thuê bao 0379798485 và Kiến nghị Công ty D1 thu hồi số thuê bao 0898874116.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Bùi Hương L1, bị cáo Hoàng Anh T1, mỗi bị cáo phải chịu án 200.000₫ án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; các bị cáo L1 và T1 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thắm |
Bản án số 11/2025/HSST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC TỈNH HẢI DƯƠNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 11/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
