Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH TÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10 - 02 - 2025

V/v tranh chấp “ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN - TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Kim Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Ngọc Đức
  2. Ông Trương Văn Ánh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Điền - là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 207/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024; về tranh chấp: “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXX-ST ngày 06 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22/01/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Ngọc T, sinh năm 1986. Địa chỉ: khóm T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (xin văng mặt).

- Bị đơn: Ông Đặng Văn M, sinh năm 1986. Địa chỉ: khóm T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/10/2024 nguyên đơn bà Đinh Thị Ngọc T trình bày: Bà và ông Đặng Văn M cưới nhau vào năm 2009. Hôn nhân do quen biết, tìm hiều nhau; sau đó được sự đồng ý của gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương; đăng ký kết hôn ngày 09/11/2009 tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi cưới vợ chồng về sống ở khóm C, phường C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long, được 02 năm; sau đó về sống tại tổ A, khóm T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long; hạnh phúc được 05 năm; có 01 con chung: Đặng Minh K, sinh ngày 10/4/2012 hiện sống với bà. Trong thời gian chung sống, vợ chồng không tạo lập tài sản chung; không thiếu nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ. Mâu thuẫn phát sinh vào năm 2014, ông M không chí thú làm ăn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung nên tình cảm vợ chồng không còn. Bà đã tạo cơ hội để chồng sửa chữa lỗi lầm để cùng nhau lo cho con, nhưng chồng vẫn tính nào tật đó tiếp tục gây nợ; vợ chồng ly thân từ năm 2017 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu giải quyết được ly hôn ông Đặng Văn M; Về con chung: Đặng Minh K, sinh ngày 10/4/2012, bà yêu cầu được quyền nuôi con, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản: không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra bà không còn yêu cầu nào khác.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/11/2024 cháu Đặng Minh K trình bày: cha cháu là Đặng Văn M, mẹ cháu là Đinh Thị Ngọc T; cha mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng sống với mẹ.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

+ Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Ngọc T được ly hôn ông Đặng Văn M; Về con chung: giao Đặng Minh K, sinh ngày 10/4/2012 cho bà Đinh Thị Ngọc T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, bà không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con. Ông M được quyền tới lui, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Nhưng ông M không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Về tài sản chung: không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết; Về án phí buộc bà T phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, bà được khấu trừ tạm ứng nên không phải nộp thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Bà Đinh Thị Ngọc T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Đặng Văn M, ông M có nơi cư trú thuộc huyện B nên tranh chấp và quan hệ pháp luật thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng triệu tập bị đơn ông Đặng Văn M tham gia phiên tòa giải quyết vụ án nhưng ông M vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Bà Đinh Thị Ngọc T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

[1.3] Bị đơn ông Đặng Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không trình bày ý kiến, không đưa ra được chứng cứ chứng minh nên ông M đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình. Ông M phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án làm chứng cứ để xem xét giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị Ngọc T và ông Đặng Văn M tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà T là có cơ sở. Bởi lẽ quá trình chung sống ông bà bất đồng quan điểm với nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn hạnh phúc, ly thân từ năm 2017 đến nay. Từ lâu đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng phải thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng không còn quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà T xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông M, bà yêu cầu được ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T được ly hôn ông M là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung:

Đặng Minh K, sinh ngày 10/4/2012, bà T yêu cầu được quyền nuôi con. Xét thấy từ khi bà T và ông M không còn sống chung, bà T là người trực tiếp nuôi con, cuộc sống của con vẫn được đảm bảo; cháu Minh K có nguyện vọng sống với mẹ. Do đó Hội đồng xét xử xem xét giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Theo quy định của pháp luật thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, tuy nhiên bà T không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[2.3] Về chia tài sản: Bà Đinh Thị Ngọc T không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Bà Đinh Thị Ngọc T phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Ngọc T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Đinh Thị Ngọc T và ông Đặng Văn M.

2. Về con chung:

Giao con chung Đặng Minh K, sinh ngày 10/4/2012 cho bà Đinh Thị Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: bà Đinh Thị Ngọc T không yêu cầu ông Đặng Văn M cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Ông Đặng Văn M có nghĩa vụ tôn trọng quyền của cháu Đặng Minh K được sống chung với bà Đinh Thị Ngọc T.

Ông Đặng Văn M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình; đồng thời người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về chia tài sản: Bà Đinh Thị Ngọc T không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Đinh Thị Ngọc T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do bà T nộp theo biên lai thu số 0000117 ngày 11/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Tân. Vậy bà T đã nộp đủ.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhân:

  • - TAND T. Vĩnh Long;
  • - VKSND H. Bình Tân;
  • - Chi cục THADS H. Bình Tân;
  • - UBND xã Thành Lợi, H. Bình Tân, T. Vĩnh Long;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phan Kim Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN - TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN - TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Đinh Thị Ngọc T yêu cầu giải quyết: được ly hôn ông Đặng Văn M; Về con chung: Đặng Minh K, sinh ngày 10/4/2012, bà yêu cầu được quyền nuôi con, không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger