Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 07-02-2025

V/v không công nhận quan hệ vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thêm.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Huỳnh Sơn Tây;
  • Ông Nguyễn Thanh Cần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 381/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyếtđưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu D, sinh năm 1974; địa chỉ: thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; có mặt;
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Â, sinh năm 1968; địa chỉ: thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nơi ở: Nhà T, đường E, tổ A, khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/8/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Thu D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thu D và ông Nguyễn Văn  tìm hiểu nhau và tổ chức lễ cưới, sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1992 tại xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình nhưng ông bà không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.

Thời gian đầu vợ chồng sống chung rất hạnh phúc, đến khoảng năm 2010 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn về quan điểm sống. Vợ chồng đã tìm cách giải quyết mâu thuẫn của vợ chồng nhưng không thành. Vợ chồng không còn tình cảm và đã không còn sống chung với nhau từ năm 2010 cho đến nay. Bà D vẫn sinh sống tại thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình còn ông  sinh sống tại nhà trọ ông Đoàn Cao C, đường E, tổ A, khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Từ khi vợ chồng không sống chung cho đến nay hai bên không liên lạc với nhau. Bà D nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn và vợ chồng không có đăng ký kết hôn nên bà yêu cầu Tòa án không công nhận bà và ông  là vợ chồng.

Về con chung: Ông bà có 02 người con chung tên Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 02/8/1992 và Nguyễn Thị Diệu N, sinh ngày 22/9/1998 đã thanh niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng cháu Nguyễn Lê Hoàng N1, sinh ngày 12/02/2012 là con nuôi nên bà D yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu ông  phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn  vắng mặt tại phiên tòa và không có văn bản trình bày ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên phát biểu tại phiên tòa:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật đúng theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên.

Về nội dung: Bà Trần Thị Thu D và ông Nguyễn Văn  sống chung như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D. Về con chung: Giao con chung cho bà D được quyền nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi và về tài sản chung, nợ chung: bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,

  1. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trần Thị Thu D có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Nguyễn Văn  nên Tòa án thụ lý là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bà D và ông  không có đăng ký kết hôn nên đây là vụ án “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo quy định tại khoản 7 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Văn  có địa chỉ tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Ông Nguyễn Văn  đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ để giải quyết vụ án vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thu D và ông Nguyễn Văn  là những người đủ điều kiện kết hôn; ông bà tự nguyện tiến tới hôn nhân, sống chung như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng giữa bà D và ông  nên có căn cứ chấp chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D.
  4. Về con chung: Trong thời gian sống chung, ông bà có 02 người con chung tên Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 02/8/1992 và Nguyễn Thị Diệu N, sinh ngày 22/9/1998 đã thành niên nên bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng cháu Nguyễn Lê Hoàng N1, sinh ngày 12/02/2012 đang sống chung với bà D nên bà D yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, yêu cầu của bà D là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.
  5. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D không yêu cầu ông  cấp dưỡng nuôi con.
  6. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
  7. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp quy định pháp luật.
  8. Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị Thu D phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 146, 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 9, 14, 15, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu D đối với ông Nguyễn Văn  như sau:
    • - Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị Thu D với ông Nguyễn Văn Â.
    • - Về con chung:

      Anh Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 02/8/1992 và chị Nguyễn Thị Diệu N, sinh ngày 22/9/1998 đã thành niên và đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

      Giao con chung tên Nguyễn Lê Hoàng N1, sinh ngày 12/02/2012 cho bà Trần Thị Thu D trực tiếp nuôi dưỡng.

    • - Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Văn  không phải cấp dưỡng nuôi con.

      Bà Trần Thị Thu D và ông Nguyễn Văn  đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con được quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp lạm dụng quyền đi lại thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

    • - Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
  2. Về án phí: Bà Trần Thị Thu D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hônvà gia đình sơ thẩm trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004370, ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Hồng Thêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà D yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Â
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger