TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày 06-02-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thúy Mùi; Bà Phạm Thị Loan.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 111/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 01/TB-TA ngày 13/01/2025 đối với
Bị cáo: Đoàn Minh H; tên gọi khác: không có; giới tính: nam;
Sinh ngày 11/3/1983, tại quận H, thành phố Hà Nội;
Đăng ký hộ khẩu thường trú: số nhà B, ngõ E, phố L, phường B, quận H, thành phố Hà Nội; chỗ ở: thôn A, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Họ và tên cha: Đoàn Hữu V, sinh năm 1959. Họ và tên mẹ: Phạm Thị T, sinh năm 1959; Vợ: Đoàn Thị Thu H1, sinh năm 1986 (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2014; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số 46/2017/HSST ngày 22/3/2017 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”, 01 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 09 năm 6 tháng tù; ngày 14/10/2023 chấp hành xong hình phạt tù; tháng 11/2017 thi hành xong án phí; Nhân thân: Bản án 320/HS-ST ngày 23/8/2004 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, bị cáo phải nộp 4.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước và 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2006; kết quả xác minh không tìm thấy hồ sơ, sổ sách thi hành án đối với Đoàn Minh H. Bản án 207/HSST ngày 31/8/2004 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (giá trị tài sản trộm cắp 600.000 đồng); chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2006; chưa thi hành 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, được xóa án tích theo Nghị quyết số 33/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc Hội. Bản án 92/2010/HSST ngày 07/4/2010 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 02 năm 02 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/3/2012; thi hành xong án phí tháng 4/2010.
Đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 03/4/2001 về hành vi trộm cắp tài sản và quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 15/10/2006 đối với Đoàn Minh H do Công an phường B, quận H, thành phố Hà Nội xử lý. Kết quả xác minh: Công an phường B, quận H, thành phố Hà Nội không lưu trữ hồ sơ, tài liệu liên quan. Bị tạm giữ từ ngày 10/8/2024 đến ngày 16/8/2024 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
Người chứng kiến:
-Anh Phạm Văn M, sinh năm 1992.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình
-Anh Trần Tuấn Đ, sinh năm 1996.
Nơi cư trú: Tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình
(Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt người chứng kiến)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ ngày 10/8/2024, tại khu vực đường P, thuộc tổ H, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an tỉnh T phối hợp với Công an thị trấn A, huyện Q phát hiện Đoàn Minh H đang đi bộ một mình, có biểu hiện liên quan đến ma túy theo nguồn tin quần chúng nhân dân phản ánh. Trước sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương và anh Phạm Văn M cùng anh Trần Tuấn Đ, H đã tự giác lấy ra từ túi quần bên trái phía trước đang mặc giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon có mép cài viền kích thước 01cm x 1,5cm, một mặt màu đen, chứa chất dạng tinh thể trong suốt (qua giám định là Methamphetamine có khối lượng là 0,2640 gam) và khai nhận đó là túi ma túy đá của H mua để sử dụng cho bản thân. Kiểm tra người Hiệp không phát hiện, thu giữ gì. Tổ công tác đã đưa H cùng vật chứng và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an thị trấn A, huyện Q lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đoàn Minh H tại thôn A, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng, không phát hiện, thu giữ gì.
Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo H khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 10/8/2024, H đi bộ từ phòng trọ ở thôn A, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng đến khu vực chân Cầu N thuộc huyện V, thành phố Hải Phòng mua của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ, 01 túi ma túy đá với giá 400.000 đồng rồi giấu vào túi quần bên trái phía trước đang mặc và đi bộ sang địa phận tỉnh Thái Bình tìm chỗ vắng để sử dụng. Khi đi đến khu vực đường P, thuộc tổ H, thị trấn A, huyện Q thì bị Công an tỉnh T phát hiện, bắt quả tang
Kết luận giám định số 1239/KL- KTHS ngày 14/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T: “Mẫu vật giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là 0,2640 gam (không phẩy hai nghìn sáu trăm bốn mươi gam). Methamphetamine STT: 247 Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ”.
-Tại bản Cáo trạng số 120/CT-VKSQP ngày 18/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;
-Tại phiên tòa: Bị cáo H đã khai nhận hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy vào ngày 10/8/2024 như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo là người nghiện ma túy, mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn, hối cải.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo H, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H từ 02 năm tù đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 10/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.
- Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng xã hội, trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Công an huyện Q, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ và còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, các biên bản tạm giữ, niêm phong đồ vật, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập hồi 18 giờ 20 phút, 19 giờ 50 phút và 19 giờ 55 phút ngày 10/8/2024, tại trụ sở Công an thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập hồi 00 giờ 35 phút ngày 11/8/2024 tại Phòng K Công an tỉnh T; Kết luận giám định số 1239/KL- KTHS ngày 14/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T. Cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 10/8/2024, tại khu vực đường P, thuộc tổ H, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, bị cáo Đoàn Minh H đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,2640 gam (không phẩy hai nghìn sáu trăm bốn mươi gam) Methamphetamine, với mục đích để sử dụng cho bản thân, bị Công an tỉnh T phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ.
Điều 249 Bộ luật Hình sự:Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy: Bị cáo đã tàng trữ 01 túi ma túy có khối lượng 0,2640 gam mục đích để sử dụng thỏa mãn cơn nghiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất gây nghiện, xâm phạm trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo coi thường pháp luật, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Vì vậy Hội đồng xét xử cần phải lên một mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội cũng như việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự. Bị cáo chưa được xoá án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt tù về về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuy bị cáo đã chấp hành xong bản án nhưng cho thấy bị cáo chưa chấp hành tốt quy định của pháp luật, đây cũng là căn cứ quan trọng để Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.
[5] Về quyết định hình phạt: Từ những phân tích nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và bảo đảm mục đích hình phạt nói chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm sử dụng cho bản thân, hiện tại không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về nguồn gốc số ma túy: bị cáo khai mua của người đàn ông không biết tên, địa chỉ tại khu vực Cầu N thuộc địa phận huyện V, thành phố Hải Phòng nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra, xử lý.
[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 túi ma túy loại Methamphetamin, xét thấy đây là vật chứng vụ án, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vì vậy cần tịch thu để tiêu hủy là phù hợp với Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đoàn Minh H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/8/2024.
Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 túi ma túy được niêm phong trong phong bì hoàn mẫu vật sau giám định số 1239/KL- KTHS ngày 14/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T.
Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ và hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - TAND tỉnh Thái Bình; - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình; - VKSND huyện Quỳnh Phụ. -Trại giam Công an tỉnh Thái Bình. - Chi cục THADS huyện Quỳnh Phụ; - Công an huyện Quỳnh Phụ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Minh Đức |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đoàn Minh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .
