Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày 05 tháng 02 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng và bà Võ Thị Thanh Phương.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Quỳnh, Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Toàn E (T), sinh ngày 15 tháng 10 năm 1987, tại thị xã T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ C, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; không xác định họ tên cha, mẹ tên Nguyễn Thu L; chưa có vợ, con.

Tiền án, Tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/10/2024 cho đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thu L sinh năm 1962, nơi cư trú: tổ C, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).

Người làm chứng: Ông Trần Minh Q (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ, ngày 11/8/2024, Công an phường V, thành phố C nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại đường C, thuộc tổ B, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, có 01 thanh niên mặc áo thun trắng điều khiển xe mô tô biển số 67H1 – 877.28 có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Công an phường V, đến địa điểm trên phát hiện Nguyễn Toàn E đang cầm trên tay trái 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt, hàn kín, quấn băng keo màu đen, bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Toàn E cùng tang vật.

Tang vật thu giữ: 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt, hàn kín, quấn băng keo màu đen, bên trong chứa tinh thể màu trắng (giám định là ma túy, loại Methamphetamine); 01 xe mô tô biển số 67H1 – 877.28.

Căn cứ Kết luận giám định số 1200/KL-KTHS ngày 05/9/2024 của Phòng K, Công an tỉnh A xác định: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2513 gam.

Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSCĐ-HS ngày 09/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Nguyễn Toàn E về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Cáo trạng đã nêu. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Toàn E từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng các Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung:

[3] Tại phiên tòa, xét thấy lời khai nhận của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa là phù hợp nhau về thời gian, địa điểm và diễn biến về hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Ngoài ra, lời khai nhận của bị cáo còn phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra và được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 11 giờ, ngày 11/8/2024, tại đường C, thuộc tổ B, khóm C, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang bị cáo Nguyễn Toàn E có hành vi cất giấu 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt, hàn kín, quấn băng keo màu đen, bên trong chứa tinh thể màu trắng được giám định là ma túy loại Methamphetamine khối lượng 0,2513 gam bị Công an phường V kiểm tra lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Nguyễn Toàn E đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Nguyễn Toàn E là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích cất giấu để sử dụng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội; thuộc thành phần nhân dân lao động. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, tội phạm về ma tuý có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Đối với lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang bị cáo và bao gói ma tuý hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với xe mô tô biển số 67H1 – 877.28, qua xác minh xác định bà Nguyễn Thu L đứng tên đăng ký sở hữu. Do đó, có cơ sở xác định bà Nguyễn Thu L người quản lý hợp pháp đối với xe mô tô biển số 67H1 – 877.28. Việc bị cáo sử dụng xe mô tô đi mua ma tuý sử dụng thì bà L không biết nên có yêu cầu nhận lại xe. Xét, người quản lý hợp pháp xe mô tô biển số 67H1 – 877.28 không có lỗi trong việc để bị cáo Toàn E sử dụng xe mô tô mua và cất giấu trái phép chất ma tuý nên giao trả lại cho bà Nguyễn Thu L xe mô tô biển số 67H1 – 877.28 là phù hợp.

[7] Các vấn đề khác: Người thanh niên bán ma túy cho bị cáo Toàn E, chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa làm việc nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

  • - Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Toàn E (T) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: xử phạt bị cáo Nguyễn Toàn E (T): 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/10/2024.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong ghi vụ số 1200/KL-KTHS ngày 05 tháng 9 năm 2024, có hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C cùng các chữ ký ghi tên Trần Phương C và Nguyễn Thị Mỹ H.
  • - Giao trả cho bà Nguyễn Thu L: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại Wave anpha, biển số 67H1-877.28, số máy 2620856, số khung 123947 (xe đã qua sử dụng, không kiển tra thực trạng bên trong).

(Đặc điểm vật chứng được mô tả theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 01 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Châu Đốc).

Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Toàn E (T) phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Nguyễn Toàn E, (T), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thu L có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh AG (1)
  • - Viện KSND tỉnh AG (1);
  • - Viện KSND thành phố (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Nhà Tạm giữ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thành phố (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lư Thị Châu Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 05/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger